Life Boat – Pham Chi

 

B932EFCA-4919-455D-8C48-373F2A18E6F3
Life Boat. Photo by tienve

Life Boat
Pham Chi
(Hoang Ngoc-Tuan translated into English)

I am a friend of Nerine Martini, the artist who created Life Boat. I am a Buddhist and one of a million Vietnamese refugees who risked their lives at sea in search for freedom.

Before my successful escape, I had had ten years living under the Communist regime (1975- 1985). More than half of that time, I was arrested and tortured in a number of jails and re- education camps; the rest of that time was spent in hiding, or repeating attempts of escape by boat. In those ten harsh years, despite torments during investigations, despite ruthless toil in re-education camps in Con Dao island (Poulo Condore), Cam Ranh, Tran Phu, A.40, A30 …. Despite wavering between life and death, I had never given up my intention of escaping Vietnam.

The boat was a lingering obsession.

In May 1985, I and 38 other men, women and children, boarded a thin boat, not even 10 meters long, with primitive motors and a scant supply of food, we departed from Ca Mau, heading for Thailand. Leaving behind firing bullets from Vietnamese sea border police, we faced to storms, hunger, thirst and finally Thai pirates. We were all stripped and badly beaten. Women and young girls were raped. The boat was methodically chipped searching for gold and diamonds.

Have you ever seen Thai pirates? Try this: a group of big muscular men, brown skin, long wavy hair, their bodies full of scars and tattoos. They wear only underwear, sort of female strings of pink, or green. They wear gold chains on their necks. They carry axes or daggers; they move quickly and in harmony with other mates, from the torture they inflict to the rapes. But the most horrible thing is their eyes; which I cannot forget even now 20 years later.

When we arrived in Terengganu (Malysia), we 38 people were no longer felt human. We crawled onto the sand with no clothes. Some young girls still bled between their skinny legs; their blood mixed with ocean water, and boat oil running down on their purple legs.

The boat had finished its fate, starting to sink over waves of water; the sunlight flared on Terengganu sand.

Just like millions of Vietnamese refugees around the globe, I am still hit by nightmares after 20 years of settlement in Sydney. The nightmares perist, I sweat with them in the fear and frustration of being trapped, waiting for investigation, being in jails… Everything remains, regardless of day light or night time. Miraculously, the boat is never in my nightmares.

I was introduced to Nerine Martini in 2007. Last winter, I went with a few art friends to visit Nerine’s home in Blue Mountain in the intention to help her load the Life Boat from the truck onto her yard. Life Boat is a real boat skeleton of around 5 meters long, transferred from Melbourne to Sydney after an exhibition. It was the first time I saw Life Boat.

When the huge truck entered Nerine’s front yard, I was totally overwhelmed by the boat; I was nailed onto the ground by the cold of Sydney’s mid winter and the grey sky of the Blue Mountain. Tears ran down my cheeks as I heard ocean waves – angry and loud. I heard the sobbing of an eight year old girl after her rape; I heard the cries from an old man whose gold teeth were pulled out by Thai pirates; I saw myself naked sitting in front of the deck, the rain beating my tattered body and I yelling out “Kwan Yin, Mother of Mercy, please save us”. Twenty years ago, I shouted this out with all my strength.

Eight arms attached to Life Boat are manifestation of eight arms of the Kwan Yin statue from the ancient But Thap pagoda in Hanoi that Nerine once saw during her research in Vietnam. Since then eight arms always wave to her soul.

I suggested that Nerine change the title of “Thuyen cuu roi” (Boat to rescue) into “thuyen cuu do” (boat to rescue), because Buddhist mantras uses the word “cuu do”, and not “cuu roi” which is a term used by Christians.

I am writing these words in front of Life Boat that I purchased from that day.

Every night, when my wife and children are sleep, I often sit and look at the boat. The light above shines on the boat, and leaves a shadow like a carcass of the boat, another boat – a fish skeleton – lying somewhere on the ocean bed …. And Kwan Yin’s arms forever dancing to everyone like ocean waves.

Source: https://nerinemartini.com/wp-content/uploads/2019/08/Story_of_the_Owner_of_Life.boat-.pdf

More: http://artsbluemountains.com.au/images/oz-arts/2015-winter/nerine_martini.pdf

D3024E3C-F248-4F88-9CA3-2781EE2D9CD0
Life Boat (maquette). Photo by tienve

THUYỀN CỨU RỖI
Phạm Chí

Tôi là một người bạn của Nerine Martini, tác giả của bức điêu khắc này. Tôi theo đạo Phật và là một trong hàng triệu người Việt Nam tị nạn bằng thuyền từ sau tháng 4/1975.

Trước khi thoát khỏi Việt Nam, tôi đã có mười năm sống dưới chế độ cộng sản (1975-1985). Hơn nửa thời gian đó, tôi bị giam giữ và hành hạ trong một số trại tù và trại cải tạo; thời gian còn lại là lẩn lút mưu toan cho những chuyến vượt biên, lập đi lập lại bất thành. Và suốt mười năm khốc liệt đó, dù đang bị đánh đập tra tấn trong những lần thẩm cung, dù đang quần quật lao động khổ sai tại Côn Đảo (Poulo Condore), Cam Ranh, Trần Phú, A.40, A30, …dù có lúc biên giới giữa sự sống và cái chết chỉ là một, tôi chưa bao giờ từ bỏ ý định vượt thoát khỏi Việt Nam.

Chiếc thuyền là một ám ảnh không rời.
Tháng 5, 1985, tôi cùng với 38 người gồm nam phụ lão ấu trên một chiếc thuyền mỏng manh dài chưa tới mười thước, với máy móc thô sơ, thực phẩm thiếu thốn, xuất phát từ Cà Mau, hướng về Vịnh Thái Lan. Sau khi thoát lằn đạn lửa của công an biên phòng bắn rượt theo trong đêm, thì hôm sau đó chúng tôi phải đối diện với bão biển, đói khát, và sau cùng chúng tôi gặp hải tặc Thái Lan. Chúng tôi bị lột trần truồng, bị đánh đập dã man. Phụ nữ và các em gái bị hãm hiếp. Chiếc thuyền bị chẻ ra để tìm kiếm vàng bạc.

Quí vị có biết hải tặc Thái như thế nào không? Quí vị thử nhắm mắt hình dung một đoàn người vạm vỡ to lớn, da đen, nâu, tóc quăn để dài, cả thân hình đầy vết xăm, vết sẹo, và chỉ vận chiếc quần lót loại của phụ nữ nhỏ xíu mỏng tanh màu xanh lá cây hoặc màu hồng, cổ đeo dây chuyền vàng to bản, tay cầm dao quắm hoặc rìu, di chuyển nhanh gọn, và thuần thục từng hành động từ đánh đập cho đến hãm hiếp. Nhưng cái kinh khủng nhất là ánh mắt của họ. Cái ánh mắt mà cho đến hôm nay, sau hơn 20 năm, tôi vẫn còn hình dung mồn một…

Đến Terengganu (Malaysia), chúng tôi 38 người không còn là người, không quần áo che thân, bò lổn ngổn trên bãi cát, phụ nữ em gái máu còn ròng ròng từ chỗ kín hòa với nước biển, với dầu cặn chảy dọc theo hai ống chân bầm tím…

Và chiếc thuyền đã xong phần số, bắt đầu chìm dần trên làn nước dập dìu đưa đẩy, trên bãi biển lóa nắng Terengganu.
Giống như hàng triệu người Việt tị nạn ở đó đây khắp nơi trên thế giới, sau hơn 20 năm ở Sydney tôi vẫn còn nguyên những cơn ác mộng thỉnh thoảng cứ lập đi lập lại, toát mồ hôi lạnh kinh hoàng vì tưởng mình chưa vượt thoát được, vẫn còn ở tại đất nước đó, vẫn còn đang chờ thẩm cung, vẫn còn đang lao cải… Tất cả vẫn còn, dù trong ý nghĩ ban ngày hay trong vô thức của giấc ngủ ban đêm. Nhưng lạ thay, chỉ một điều vắng mất, không còn ám ảnh tôi nữa — chiếc thuyền.

Tôi quen biết Nerine Martini năm 2007. Mùa đông năm ngoái, tôi và vài người bạn trong lĩnh vực hội họa cùng đi đến tư gia Nerine ở Blue Mountain để giúp cô khuân tác phẩm “Thuyền Cứu Rỗi” (nguyên khổ lớn, được chở bằng xe vận tải từ Melbourne về Sydney) vào sân vườn nhà cô. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được tận mắt nhìn thấy nó.

Khi chiếc xe tải ì ạch tiến vào ngõ dẫn vào sân nhà Nerine, tôi hoàn toàn rúng động, hoàn toàn bất ngờ, sửng sốt nhìn chiếc “Thuyền Cứu Rỗi” đang được phụ đưa xuống xe bởi Nerine và các bạn tôi. Bởi tôi như bị ghim xuống đất, trong cái mùa đông của bầu trời xám xị, tôi đứng đó không biết nước mắt mình trào ra, tôi nghe xung quanh tôi tiếng sóng biển ầm ì, lúc dạt dào lúc phẫn nộ, tôi nghe tiếng khóc tỉ tê của đứa bé gái 8 tuổi sau khi bị Thái Lan hiếp, tôi nghe tiếng khóc ồm ồm của người đàn ông bị cướp Thái Lan nhổ mất mấy chiếc răng bịt vàng. Tôi thấy tôi trần truồng ngồi trước mũi thuyền đưa thân hình gầy gò bầm đau rỉ máu hứng chịu mưa biển quất vào mặt vào thân, lờ mờ trước mắt là biển động mù mịt và tôi thấy tôi la to về phía trước “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát”. Hơn 20 năm trước, tôi đã la như vậy bằng tất cả sức lực còn sót lại của mình.

Tám cánh tay đính vào hai mạn thuyền là tám cánh tay của bức tượng Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara Bodhisattva) tại chùa Bút Tháp – Hà Bắc. Nerine Martini nhìn thấy tám cánh tay này trong một lần viếng thăm học hỏi về nghệ thuật tạo hình của Chùa Cổ Việt Nam. Từ đó, tám cánh tay ở lại một cánh bồng bềnh, dịu dàng vẫy gọi, vẫy gọi mãi trong tâm thức của cô.

Tôi có đề nghị Nerine Martini đổi tên “Thuyền Cứu Rỗi” thành “Thuyền Cứu Độ”, bởi vì kinh sách Phật Giáo dùng chữ cứu độ, thay vì cứu rỗi là chữ bên kinh sách Thiên Chúa Giáo. Thêm nữa, chữ cứu độ mang ý nghĩa sâu và tròn đầy hơn chữ cứu rỗi, bởi không những cứu mà còn độ cho đến sau này.

Hôm nay, ngồi viết những dòng này, trước mặt tôi là mô hình thuyền cứu rỗi thu nhỏ mà tôi đã mua lại từ Nerine từ hôm mùa đông đó.

Mỗi đêm, khi vợ con tôi đã yên giấc, tôi thường ngồi lặng lẽ nhìn chiếc thuyền, ánh đèn từ trên chụp xuống in đậm lên bệ cái bóng đen một xác thuyền khác, như một cái xương cá nằm đâu đó dưới lòng đại dương, Vịnh Thái Lan, biển Nam Hải… và những cánh tay Bồ Tát vẫn dập dìu muôn đời như làn sóng gợn phía bên trên.

Nguồn: http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=8528

—————

879D42A1-4DD5-4050-AEAD-E4360179D87D
Life Boat (maquette), detail. Photo by tienve

(Gởi bạn bè, những người một thời bị ám bởi con thuyền.)

THUYỀN
Võ Quốc Linh

Năm ngoái, có một lần Nerine Martini gọi điện thoại cho tôi, giọng cô reo vui khác thường: “Linh ơi, còn nhớ bài viết Thuyền Cứu Rỗi không? Carolynne Skinner, chủ biên của đặc san mỹ thuật OZ Arts, có đọc bài viết của Linh và rất thích, bà nhờ mình gọi Linh để được phép đăng cũng như xin trích một đoạn cho phần kết bài tiểu luận của bà… Linh đồng ý chứ?”
Lặng yên một khoảnh khắc, tôi nói, giọng tỉnh queo: “Ồ, Nerine, tôi e là không được đâu. Tôi không nghĩ là Carolynne có thể trả nổi khoản… tiền nhuận bút đâu.”

*

Gần mươi năm trước, tôi bày một tiệc nhỏ tại nhà, khách mời phần lớn là người Úc chuyên môn trong lĩnh vực tạo hình: Kon Gouriotis, Nerine Martini, Sue Pedley, Ray Beattie, chị Huỳnh Bội Trân, Mỹ Lệ Thi, anh Hoàng Ngọc-Tuấn…

Sau bữa ăn nhẹ, mọi người ngồi quanh cái bàn thấp rộng trong phòng khách, chính giữa bàn là tác phẩm điêu khắc của Nerine Martine: “Thuyền Cứu Rỗi”. Kon Gouriotis ngồi đối diện với tôi. Thuở đó Kon đang làm giám đốc của Viện Mỹ Thuật Casula Powerhouse. Ngắm chiếc thuyền thật lâu, đột ngột ông ngẩng mặt lên nhìn tôi nói: “Linh, bồ kể cho tụi này nghe tại sao bồ thích và mua lại chiếc thuyền này đi.”

Có lẽ vì đang ngà ngà hơi men, hay vì bị thúc giục bởi một ám ảnh trong vô thức, tôi bắt đầu kể, mắt không rời chiếc thuyền trước mặt.

Tôi đã không còn ngồi đó nữa, hồi tưởng ném tôi lọt thỏm vào lòng chiếc thuyền của hơn 20 năm trước. Tôi đang ngồi bệt trần truồng, sống lưng tựa vào mạn thuyền, hai bàn tay bấu chặt vào ống chân trái nơi vừa bị bể toác vì nhát rìu; tên hải tặc Thái nhắm đầu tôi bửa xuống mà chính phản xạ sinh tồn đã khiến tôi cuộn mình, giơ ống chân lên che chắn. Qua kẽ tay, máu cứ lầy nhầy, lợn cợn ứa ra.

Máu nhễu giọt… Đống quần áo bao bị sau khi đã giằng xé ra khỏi thân thể của 38 con người, được gom thành một đống lớn giữa lòng chiếc thuyền. Như một thứ “nghi lễ” kỳ dị, nhóm hải tặc vừa cười rú, vừa nhảy múa xung quanh đống đồ, vừa nhặt từng chiếc lên, lấy ra tất cả những gì trong túi áo, túi quần. Chưa xong, họ còn tỉ mỉ lần ngón tay theo từng cái tà áo, cái lai quần. Họ rành quá, ở đó chính là nơi người tị nạn cất giữ những thứ quí giá nhất: những sợi dây chuyền vàng, những đồng đô-la cuộn nhỏ… Ở đó cũng là nơi ghi chép địa chỉ người thân ở Anh, ở Mỹ…, ghi chép cấp bậc số quân của người cha, người chồng còn trong trại cải tạo.

Máu nhễu giọt… Những tên hải tặc bồng xốc những đứa con gái lên rồi vật từng đứa, từng đứa nằm ngửa loã lồ trên sàn ca-bin thuyền. Bọn chúng xếp hàng một rồi tuần tự thúc tới. Một cái thùng phuy chứa đầy nước bên cạnh, một cái nón sắt cũ của lính Mỹ lật ngửa, như cái gáo… Họ múc – tạt – rửa… Múc – tạt – rửa… Múc – tạt – rửa… Rồi bọn chúng luân phiên, nhường chỗ cho những kẻ kế tiếp.

Tôi kể, tôi kể. Máu nhễu giọt, nhễu giọt… Giọng tôi đều và lạnh, cứ như vậy không biết bao lâu tôi chợt rũ ra, kiệt sức…

*

Khi tôi kể xong, ngước mặt nhìn lên, bạn bè vẫn còn sững sờ bất động, họ nhìn tôi như nhìn một người đang… hấp hối.

Kon Gouriotis là người đầu tiên lên tiếng, giọng ông lạc hẳn, ấp úng: “Linh ơi, Tối mai tôi quay lại nhà bồ được không? Tôi sẽ mang theo cái máy quay phim. Tối mai bồ làm ơn kể lại chuyện này một lần nữa. Cuốn phim sẽ là một loại Video-Art về người tị nạn… mà tôi muốn dùng nó cho cuộc triển lãm sắp tới.”

Chị Bội Trân và dăm ba người nhẹ nhàng tán đồng ý định của Kon Gouriotis. Họ lên tiếng khuyến khích, nhưng tôi dứt khoát từ chối vì trước tiên tôi biết mình không thể “diễn” lại những gì tôi mới kể. Hơn nữa, để danh tính và diện mạo nơi công cộng là điều tôi thường tránh né. Tôn trọng tôi, bạn bè không nhắc đến việc làm phim, nhưng họ lại loay hoay tiếc. Chị Bội Trân sau đó nhỏ nhẹ đề nghị: “Hay là anh Linh viết lại đi. Trân nghĩ ngồi viết lại có lẽ dễ hơn.” Chiều chị và nhóm bạn hữu, tôi gật đầu.

Không lâu sau đó, cầm bài viết Thuyền Cứu Rỗi đưa cho chị Bội Trân, tôi nhờ chị đừng để tên cúng cơm của tôi dưới bài viết, chị muốn lấy tên gì khác cũng được. Chị đã lẳng lặng dùng một bút hiệu cũ của tôi: Phạm Chí.

Trong cuộc triển lãm “Nam Bang” tại Viện Mỹ Thuật Casula Powerhouse, từ 04.04.2009 đến 21.06.2009, dưới chủ đề nhìn lại cuộc chiến Việt Nam qua những góc cạnh khác nhau, với sự tham gia đóng góp tác phẩm của 25 hoạ sĩ đến từ nhiều nơi trên thế giới, tác phẩm điêu khắc “Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini từ phòng khách nhà tôi, và bài viết Thuyền Cứu Rỗi của tôi (với bản dịch tiếng Anh của anh Hoàng Ngọc-Tuấn), được trưng bày trên bục cao, trong lồng kính.

*

Tội nghiệp Nerine, vẫn đang nghe điện thoại, cô ú a ú ớ không nên lời, khi nghe tôi đề cập đến tiền nhuận bút. Tôi liền cất tiếng xin lỗi rằng tôi chỉ đùa thôi, rằng tôi có tật mỗi khi cảm động thì lại hay nói đùa. Tôi nói với Nerine rằng tôi đồng ý vô điều kiện để Carolynne tuỳ nghi sử dụng bài viết đó.

Một tháng sau, Nerine rủ tôi đi ăn bún bò Huế ở Bankstown, Sydney. Cô tặng tôi cuốn OZ Arts, số Winter 2015. Giở sách nhìn lướt qua, tôi bắt gặp dòng chữ đầu tiên Carolynne Skinner viết trong mục Editorial: “One of the most moving stories I have read in a long time is the one related by Pham Chi, a Vietnamese Australian who now owns Nerine Martini’s maquette of Life Boat / Thuyen Cuu Roi…” (Trong suốt một thời gian dài, một trong những câu chuyện cảm động nhất mà tôi từng đọc là câu chuyện được kể lại bởi Phạm Chí, một người Úc gốc Việt và hiện nay là chủ nhân của tác phẩm “Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini.)

VÕ QUỐC LINH
Little Moon Bay, 5 /2016.

Nguồn: http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=19793

Tuan – Pat Mora

EBC025FA-A347-4DB7-8C49-B62E527FDE09
April 28, 2019. After a Grand Canyon hike with No Name Group NKT the day before, some of us walked the streets of Old Town Flagstaff before lunch. I stopped by an old bookstore and came in to browse through the store. I usually buy books from local bookstores at full prices to support them, and have bought several books there. That day I saw this poem and bought the book Encantado by Pat Mora.

TUAN
Pat Mora

In Saigon, I was an artist, always an artist.
My fingers, even little, liked smoothness —
pencils, pens, brushes —
against my skin, hard, but
a comfort, a hard comfort, strokes
back and forth. I studied
and taught painting in my country.

We had to fly away. Life in California.
I had to learn to paint
nails, careful strokes, to smile
when I washed women’s
feet, painted their toes, careful strokes.

I saved, married, and we move here
to this city with its own river, so much
Spanish. English hard enough.
We worked, saved, bought our nail salon.
Sometimes I painted at home, big paintings.

My English better, nice cars, like technology.
My studio became room for baby.
In our salon, I hang my paintings.
In autumn, I hang trees all gold, a bridge,
peace, all from a postcard, stokes back and forth.
Patrons like my paintings. I smile, but they don’t buy.

I paint nails, pay bills, we survive.
I take my plants out to the edge
of the sidewalk for morning sun.
I help my daughter — her English —
so fine, with her art projects, careful
she paints back and forth.
This week a saint project. What is
a saint? I look on web. I say,
“Dad can help you paint saint.”

She likes to paint. I understand.
My wife, delicate but strong, says, “No.
Homework.
Look at us. Doing nails.

Better for her.”

(From Encantado)

71FC4FAD-171C-4C18-BFE8-97E82C6E1F93
Ngày 28/4/2019. Ngày hôm trước Nhóm Không Tên NKT chúng tôi leo Đại Vực. Hôm đó thì lang thang ở khu phố cổ thành phố Flagstaff chờ ăn trưa. Tôi dừng lại ở một tiệm sách nhỏ lục tìm một số sách. Dù có thể mua sách trên Amazon với giá rẻ hơn tới 30%, tôi thường mua sách ủng hộ ở các tiệm sách nhỏ với giá cao hơn. Trước đây chúng tôi đã mua nhiều sách ở tiệm này. Hôm đó tôi tình cờ đọc được bài thơ này trong đó, và mua luôn cuốn Encantado của Pat Mora.

TUẤN
Pat Mora
Võ Tấn Phát dịch

Ở Sài Gòn, tôi là một họa sĩ, chỉ là họa sĩ.
Những ngón tay tôi, dù nhỏ, yêu thích vẻ láng mịn —
bút chì, bút mực, cọ —
áp lên da thịt tôi, cứng, nhưng
những nét vẽ dễ chịu, cứng cáp dễ chịu
đi qua đi lại. Tôi học và dạy vẽ ở đất nước tôi.

Chúng tôi phải bỏ nhà ra đi. Đời sống ở California.
Tôi phải học sơn
móng tay móng chân, những nét cẩn thận, phải biết cười
khi tôi rửa
chân phụ nữ, sơn móng chân, những nét cẩn thận.

Tôi để dành tiền, cưới vợ, và chúng tôi chuyển tới đây
tới cái thành phố với dòng sông riêng của nó, toàn nghe tiếng Tây Ban Nha. Tiếng Anh thôi cũng đủ mệt rồi.
Chúng tôi làm việc, dành dụm, mua đứt tiệm neo.
Đôi khi tôi vẽ ở nhà, những bức tranh lớn.

Tiếng Anh của tôi ngày càng đỡ hơn, xe đẹp, thích kỹ thuật.
Phòng vẽ trở thành phòng con thơ.
Trong tiệm của chúng tôi, tôi treo những bức tranh của tôi.
Mùa thu, tôi treo tranh cây cối vàng rực, một cây cầu,
thanh bình, từ một tấm bưu thiếp, nhen nhóm trong lòng.
Khách hàng thích tranh của tôi. Tôi cười vui, nhưng họ không mua.

Tôi sơn móng tay móng chân, trả tiền, chúng tôi đủ sống.
Tôi đem cây ra bên
lề đường để hứng nắng sớm.
Tôi giúp con gái tôi — tiếng Anh của nó —
quá giỏi rồi, trong môn mỹ thuật, cẩn thận,
con bé sơn qua sơn lại.
Tuần này là vẽ một vị saint. Saint
là gì vậy? Tôi lục trên mạng. Tôi nói:
“Ừ ba có thể giúp con vẽ saint”.

Con bé thích vẽ. Tôi hiểu.
Vợ tôi, trông mỏng manh nhưng mạnh mẽ, nói: “Không.
Học bài đi.
Có thấy cha mẹ không. Làm neo đó.

Vậy mới tốt cho nó”.

Our First Suiseki

AD8BC076-DED6-4F61-A7DD-FB299846BF01
Lotus Leaf, Eel River, WxHxD 11x2x5in. Photo by Eric Stoner

Our first suiseki

We took off the last 2 weeks of December 2011, rented a big SUV Yukon, started our journey along California Coastal US Highway 1 and Highway 101, stopped at any beautiful beach or park we saw along the way, and camped at night in the SUV. After 10 days we reached the town of Klamath where the powerful river Klamath meets the sea. Exhausted, we headed home. Having heard and read about Dos Rios on the Eel River with beautiful rocks, we decided to make the trip there. We reached Dos Rios around midnight and slept in the SUV near the bridge. Little that we knew it was the beginning of a deep friendship between us and the Eel River.

09DCD786-F52D-4791-8B1F-2087461B2642

859C52CA-8E72-4316-9DE5-DD0BA3E35A58
Mouth of Klamath River

I woke up around 6AM to a misty heaven, walked down to the river bank, found a nice stone, walked back to the car, and showed it to Trang who just barely woke up then. We both walked down to the river, and she right away found a thin wavy stone stuck between 2 huge rocks. She showed it to me and said, “If you don’t want it just leave it in the river.” Of course I wanted to keep it. At the time we didn’t know much about suiseki but I knew the stone was beautiful. I thought it looked like a distant mountain on one side, or ocean wave on the other side. Trang insisted it looked like a lotus leaf.

287B7C97-BC87-455E-A207-AB84348FCFF7

A few years later we joined the California Aiseki Kai, and later the San Francisco Suiseki Kai. When we showed the rock to well-known suiseki experts, such as Nina and Larry Ragle, Jim Greaves, Don Kruger, Janet Roth and Mas Nakajima, they all thought it looked like a distant mountain or ocean wave. Still, Trang insisted it looked like a lotus leaf.

Because Trang found the rock, and especially because she is my wife, she had the final words.

“OK. Yes, boss. It’s a lotus leaf!”

But it was a challenge. As a figure stone, it could not be displayed in a ceramic or bronze tray of sand as for a landscape stone, but to be with a proper daiza. And making a daiza for this thin wavy rock is not at all easy.

755A9FC3-CBBE-4CEE-B6FC-5A0A129D2E3F

After learning to make daiza with Mas Nakajima, and with enough experience and confidence, I decided to make the daiza for this stone in September 2019. It took me about 3 full weekends and a few nights in between to finish the daiza out of solid black walnut.

When we had this suiseki at our annual Huntington Library Aisekikai Exhibition in December 2019, Jim Greaves said, “This is Mas’s legacy.” A few others also recognized Mas’s daiza style. It meant so much to us. Mas passed away the previous year. Making daiza is our way to honor and remember Mas.

BDBC27E5-E231-45AF-909D-0FFD822F5631

And I am glad I listened to my wife, at least this time.

Included in Aiseki Kai May 2020 Newsletter:

http://www.aisekikai.com/resources/May+newsletter+20.pdf

Viên thủy thạch đầu tiên

Hai tuần cuối cùng tháng 12 năm 2011, hai đứa mình mướn một chiếc SUV lớn hiệu Yukon, bắt đầu chuyến du hành theo bờ biển California trên xa lộ Highway 1 và 101, dừng lại những bãi biển hay công viên xinh đẹp bắt gặp trên đường đi, rồi ngủ trong xe ở những chỗ cắm trại dọc đường. Sau 10 ngày chúng tôi đến một thị trấn nhỏ tên Klamath, nơi dòng sông hùng vĩ Klamath đổ ra biển. Mệt mỏi lạnh lẽo, hai đứa quyết định quay về. Vì đã biết chút ít về ngôi làng nhỏ Dos Rios nằm trên sông Eel với nhiều loại đá đẹp, chúng tôi lái xe đến đó trước khi quay về. Đến nơi lúc nửa đêm, chúng tôi ngủ luôn trong xe bên cạnh chiếc cầu. Chúng tôi không hề biết đó là khởi đầu của một mối tình sâu lắng giữa con sông Eel và hai đứa tôi.

B92A4FCA-257C-4E63-B22F-AB5F252D437C

Tôi thức dậy lúc 6 giờ sáng trong một phong cảnh thần tiên lãng đãng sương mù, đi bộ xuống sông, tìm thấy một viên đá đẹp, quay lại và khoe với vợ vừa mới thức dậy. Hai đứa lại đi xuống sông, và ngay lập tức Trang tìm thấy một hòn đá mỏng gợn sóng nằm kẹt giữa hai tảng đá lớn. Cô nàng đem cho tôi coi và hỏi: “Nếu anh không thích thì bỏ lại xuống sông”. Dĩ nhiên là tôi thích rồi. Dù chưa biết gì nhiều về thủy thạch, tôi thấy hòn đá rất đẹp. Tôi nghĩ một mặt thì nó giống ngọn núi nhìn từ xa, mặt kia nó giống như sóng biển. Trang thì khăng khăng viên đá nhìn giống như lá sen.

Vài năm sau chúng tôi gia nhập Ái Thạch Hội của California, rồi sau đó Thuỷ Thạch Hội ở San Francisco. Khi hai đứa đem viên đá khoe với những bậc thầy về thủy thạch, như cặp vợ chồng Nina và Larry Ragle, Jim Greaves, Don Kruger, hay vợ chồng Janet Roth và Mas Nakajima, ai cũng nói nó giống núi xa hay sóng biển. Riêng Trang vẫn khăng khăng nó là lá sen.

Bởi vì nàng tìm thấy viên đá, và nhất là vì nàng là vợ tôi, lời của nàng là quyết định tối hậu.

”Được rồi. Xin tuân lệnh chủ nhân. Lá sen thì lá sen!”

Nhưng lá sen tạo ra thêm những thách thức mới. Vì là đá hình tượng chứ không phải đá phong cảnh, nó không thể được chưng bày trong một khay gốm hay đồng chứa cát, mà phải cần đế gỗ. Nhưng làm một cái đế gỗ cho viên đá mỏng gợn sóng nhấp nhô này chẳng dễ dàng chút nào.

Sau khi học làm đế với thầy Mas Nakajima, và đã có nhiều kinh nghiệm và đủ tự tin, tôi quyết định làm đế cho hòn đá này vào tháng 9 năm 2019. Mất khoảng 3 cuối tuần và vài buổi tối trong tuần tôi mới hoàn thành cái đế bằng gỗ walnut nguyên khối.

FA1E3513-50C2-4702-88DF-6090527D4F98

Khi chúng tôi đem viên thủy thạch này đến cuộc triển lãm hàng năm của Ái Thạch Hội ở Huntington Library vào tháng 12 năm 2019, Jim Greaves nói ngay: “Đây là đi sản của Mas”. Nhiều thành viên hội đá cũng nhận ra điều đó. Nó làm hai chúng tôi ấm lòng. Ông Mas vừa mất năm trước. Đục đẽo những cái đế gỗ là cách chúng tôi tôn kính và tưởng nhớ thầy Mas.

Và tôi thấy mừng là đã biết vâng lời vợ, ít ra là trong chuyện này.