Spring haze, moon, plum haiku — Basho

Baigetsu Natsume
Baigetsu Natsume (Lacquer Tea Caddy, Plum and Moon)

Spring haze, moon, plum haiku
Basho

春もやや
気色ととのふ
月と梅

haru moya ya
keshiki totonou
tsuki to ume

Barely Spring,
a colorful complexion of
the moon and a plum blossom

https://matsuobashohaiku.home.blog/category/moon/

The spring scene
is well prepared:
the moon and plum-blossoms.
— R.H.Blyth

Spring too, very soon!
They are setting the scene for it –
plum tree and moon.
— Harold G. Henderson

Spring
gradually takes shape–
moon and plum blossoms
— Haruo Shirane

Spring is, at long last,
Here, it feels, in the
Moon and plum blossom.
— Thomas McAuley

Spring haze –
The landscape’s perfect
The moon and apricot blossoms.
— Takafumi Saito & William R. Nelson

This spring scenery
has been properly prepared:
moon and plum blossoms
— Sam Hamill

slowly now the spring
is beginning to appear:
moon and plum blossoms
— Tim Chilcott

slowly spring
is taking shape:
moon and plum
— David Landis Barnhill

slowly spring
is making an appearance
moon and plum
— Jane Reichhold

Link: Basho’s haiku in Romanji and English

sương khói mùa xuân,
khí sắc hiện ra,
trăng và mai

春 – spring – xuân
靄 (もや moya) – haze – (Hán-Việt ái) khí mây, mây khói, sương mù
気 – air- (phồn thể 氣) – khí
色 – color, appearance – sắc
月 – moon – nguyệt
梅 – plum – mai
整う, 調う, ととのう totonou – to be prepared; to be in order; to be put in order; to be arranged – (Hán-Việt 整 chỉnh, 調 điều)

Picture: Japanese lacquer tea caddy (natsume) named Baigetsu (Plum and Moon)
https://www.rikyucha.com/item/list2/277681

Hình minh họa: hộp trà sơn mài Nhật Bản tên Mai Nguyệt.

Cracked Ice Sceen — Maruyama Okyo

Cracked Ice Sceen by Maruyama Okyo
Cracked Ice Sceen by Maruyama Okyo


Cracked Ice Sceen

by Maruyama Okyo

As a young man, Okyo was employed by a Kyoto toy merchant, Nakajima Kambei, to design prints and paintings incorporating Western-style ‘vanishing-point’ perspective, for use with novelty viewing machines that contained a mirror and a lens to accentuate the three-dimensionality of the images. Okyo applied the lessons of these early experiments to his mature works which, for the first time in the history of Japanese art, have a structure based on integrated spatial recession.

This low two-fold screen (‘furosaki-byobu’) would have been placed behind the various utensils used in the Tea Ceremony when these were laid out on the ‘tatami’ mat of the tea-room, and the minimalist composition consisting of nothing more than cracks in the ice covering a pond is typical of the austere taste associated with the world of tea during the Edo period. Even in such a seemingly simple work, however, Okyo has taken pains to arrange the cracks so that they suggest the absolutely flat surface of the ice receding far into the distance. Each brush stroke is executed with sharp, unwavering precision. Though the subject suggests the dead of winter, the intention may have been to provide a touch of cooling decor at a stifling summer Tea Ceremony.

Source: https://www.britishmuseum.org/collection/object/A_1982-1012-0-1

More from PBS: https://www.pbs.org/video/paving-way-maruyama-okyos-masterpiece-kxln4w/

Maruyama Ōkyo (円山応挙, traditional characters: 圓山 應舉, June 12, 1733 – August 31, 1795)

furosaki byōbu 風炉先屏風, literally “furnace folding screen”

Bức bình phong ‘Các vết nứt trên băng’
Họa phẩm của Maruyama Okyo

Lúc trẻ, Okyo được một thương gia làm đồ chơi người Nhật, Nakajima Kambei, thuê phác thảo các ấn bản và họa phẩm, sử dụng luật phối cảnh với điểm tụ theo lối Tây phương, để dùng cho máy coi hình mới lạ gồm gương và thấu kính, nhằm tạo hiệu ứng 3 chiều của hình ảnh. Okyo áp dụng những bài học từ các thử nghiệm lúc trẻ đó vào những tác phẩm lúc chín muồi, và chúng đã tạo được hiệu ứng chiều sâu không gian lùi ra xa lần đầu tiên trong lịch sử hội họa Nhật Bản.

Bức bình phong gồm hai tấm này có thể được đặt sau những trà cụ trong Trà Đạo nằm trên các tấm nệm rơm của trà thất, và cái bố cục tối giản không có gì ngoài những vết nứt trên băng bao phủ mặt hồ là tiêu biểu của thị hiếu mộc mạc của trà giới trong thời đại Edo. Tuy nhiên ngay cả trong một tác phẩm dường như đơn giản như thế, Okyo đã dày công sắp xếp các vết nứt sao cho chúng gợi ý bề mặt hoàn toàn bằng phẳng của băng đang lùi ra xa. Mỗi nét bút được thực hiện với độ chính xác cao độ, không chút dao động. Mặc dù chủ đề là ngay giữa mùa đông, mục đích bức họa có thể là trang trí để tạo cảm giác mát lành trong một buổi trà đạo vào mùa hè oi bức.

Maruyama Ōkyo (円山応挙, phồn thể: 圓山 應舉 – Viên Sơn Ứng Cử, 12/6/1733 – 31/8/1795)

furosaki byōbu 風炉先屏風 – phong lô tiên bình phong

tatami 畳 – tấm niệm dày bằng rơm lót phòng của Nhật Bản

Edo 江戸4 (hay 江戶) – Giang Hộ, tên cũ của Tokyo (thời đại Giang Hộ, hay thời đại Mạc Phủ Đức Xuyên, từ 1603 tới 1868)

Zelensky’s Speech Before Congress

6233D52C-2064-4873-8F0D-C76C61339269
Zelensky’s Speech Before Congress


Ladies and gentlemen — ladies and gentlemen, Americans, in two days we will celebrate Christmas. Maybe candlelit. Not because it’s more romantic, no, but because there will not be, there will be no electricity. Millions won’t have neither heating nor running water. All of these will be the result of Russian missile and drone attacks on our energy infrastructure.

But we do not complain. We do not judge and compare whose life is easier. Your well-being is the product of your national security; the result of your struggle for independence and your many victories. We, Ukrainians, will also go through our war of independence and freedom with dignity and success.

We’ll celebrate Christmas. Celebrate Christmas and, even if there is no electricity, the light of our faith in ourselves will not be put out.

Source: https://www.nytimes.com/2022/12/21/us/politics/zelensky-speech-transcript.html

Diễn văn của Zelensky trước Quốc Hội Hoa Kỳ


Kính thưa quý vị – quý vị, những người Mỹ thân mến, trong hai ngày nữa chúng tôi sẽ đón mừng Giáng Sinh. Có lẽ bằng đèn cầy. Không phải vì lãng mạn, không đâu, mà vì sẽ không có, sẽ không có điện. Hàng triệu người sẽ không có lò sưởi và nước dùng. Đó là kết quả của tên lửa và drone của Nga tấn công vào hệ thống năng lượng của chúng tôi.

Nhưng chúng tôi không than van. Chúng tôi không phán xét và so sánh xem cuộc sống của ai dễ dàng hơn. Sự sung túc của quý vị là kết quả của nền an ninh quốc gia của quý vị; là kết quả của sự tranh đấu cho nền độc lập và của nhiều thắng lợi khác. Chúng tôi, những người Ukraine, sẽ đi hết cuộc chiến giành độc lập và tự do với nhân phẩm và sẽ thành công.

Chúng tôi sẽ đón mừng Giáng Sinh. Đón mừng Giáng Sinh và, ngay cả khi không có điện, ánh sáng niềm tin của chúng tôi vào chính mình sẽ không bao giờ bị dập tắt.

Nguồn: https://www.nytimes.com/2022/12/21/us/politics/zelensky-speech-transcript.html

Huntington Library Aiseki Kai 2022 Exhibition

Huntington Library Aiseki Kai 2022 Exhibition – Lisa and Phat Vo

 

“Island of Self”, “Hải Đảo Tự Thân”, Kern River, CA WxHxD 11x5x6 inches
“Island of Self”, “Hải Đảo Tự Thân”, Kern River, CA WxHxD 11x5x6 inches

 

One Stroke Daruma, Đạt Ma Một Nét Bút (Nhất Bút Đạt Ma), A river in the USA, WxHxD 9x11x4 inches
One Stroke Daruma, Đạt Ma Một Nét Bút (Nhất Bút Đạt Ma), A river in the USA, WxHxD 9x11x4 inches

 

Chrysanthemum, Hoa Cúc, Eel River, WxHxD 7x11x11 inches
Chrysanthemum, Hoa Cúc, Eel River, WxHxD 7x11x11 inches

 

Plum Blossoms, Hoa Mai A river in the USA, WxHxD 8x8.5x4.5 inches
Plum Blossoms Hoa Mai A river in the USA WxHxD 8×8.5×4.5 inches

 

Tsukubai (stone washbasin), Bồn nước, A river in the USA, WxHxD 7.5x4.5x7 inches
Tsukubai (stone washbasin), Bồn nước, A river in the USA WxHxD 7.5×4.5×7 inches

 

Glacier, Băng Hà, Eel River, WxHxD 14x5.5x9.5 inches
Glacier, Băng Hà, Eel River, WxHxD 14×5.5×9.5 inches

Suiseki and the Chrysanthemum

Chrysanthemum in Vase
Suiseki and the Chrysanthemum
Phat Vo

Chrysanthemums were first cultivated in China in 15th century BC. In 5th century Tao Qian canonized the chrysanthemum as a recluse of flowers, as his poetic lines “I pluck chrysanthemums under the eastern hedge/Then gaze long at the distant summer hills” told of a dream of finding peace in a bustling district. The Chinese literati class included the chrysanthemum among the Four Nobles (along with the plum blossom, orchid, bamboo) in arts and literature. In the Mustard Seed Garden Manual of Painting first published in China in the 17th century, The Book of Chrysanthemums preface summed up the characteristics of the chrysanthemum the literati so much admired:

“The chrysanthemum is a flower of proud disposition; its color is beautiful, its fragrance lingers… Although the chrysanthemum is usually placed in the category of herbaceous plants, its proud blossoms brave the frost and it is classed with the pine (i.e., with trees and ligneous plants). Its stem is solitary and strong, yet as supple as the stems of spring flowers. Its leaves are rich and sleek, yet they have aspects of varied as those that quickly fade.”

Gao Fenghan, Chrysanthemums and Rock
Gao Fenghan, Chrysanthemums and Rock

Woodblock print by Utagawa Hiroshige
Woodblock print by Utagawa Hiroshige

Chrysanthemums later spread to Korea, Japan, and Vietnam, and were loved by the Confucian literati as well as the Buddhist monks. The Japanese were so taken by the chrysanthemum that they made it the Emperor’s crest. Chrysanthemums have permeated the whole of Japanese society, from the court’s symbol, to the noblemen’s ink paintings, to the monks’ haiku, to the farmers’ decorations on everyday utensils. The Japanese tearoom was constructed with Tao Qian’s philosophy, as a serene haven in the middle of a noisy city.

Japanese Emperor’s Crest
Japanese Emperor’s Crest

Naturally suiseki connoisseurs love chrysanthemum stones. It seems like a miracle to have a picture of an elegant and intricate chrysanthemum flower imprinted on a piece of hard rock in nature. People who are fortunate enough to find one in nature can talk for hours about that marvelous moment he or she discovered such a stone.

Last summer after visiting Mt. Rainier and on the way home, we stopped at the Eel River to look for stones. We walked along the river for hours without finding anything significant. When we decided it was time to head back, I saw a chrysanthemum stone in front of me. We dug it up, cleaned it, and were thrilled with joy. We just stayed there and discussed the best way to present it. One position suggested a Chinese poet with white hair holding a few chrysanthemum flowers; another position seemed like chrysanthemums in front with Mt. Fuji in the background. We were so fascinated with our stone that we forgot the time, and later had to walk back to our car in the dark for maybe half an hour.

“Chrysanthemums Under the Eastern Hedge”, WxHxD 11x11x7 inches
“Chrysanthemums Under the Eastern Hedge”, WxHxD 11x11x7 inches

“Chrysanthemums and Mt. Fuji”, WxHxD 11x11x7 inches
“Chrysanthemums and Mt. Fuji”, WxHxD 11x11x7 inches

Chrysanthemums were a symbol of autumn back in old Vietnam, but it was also a familiar flower during Tet (Lunar New Year) when we grew up. In America we still buy chrysanthemums to celebrate Tet and to honor our deceased relatives.

While chrysanthemum stones are extremely rare, chrysanthemum flowers are so common nowadays. We cannot walk into a grocery store or a nursery without spotting some yellow chrysanthemums. We usually just buy a bunch of flowers together without thinking, and don’t even take time to know the fragrance of each type of flower, let alone of the chrysanthemum. And we would throw away the whole vase of flowers at the first sight of a wilted flower or a yellow leaf. Modern life is so convenient that we miss out on the beauty of taking time to appreciate each step of development of a single chrysanthemum flower. And we miss out on some simple surprises that our ancestors enjoyed.

emaciated
yet somehow the chrysanthemums
begin to bud
— Basho, translation by Makoto Ueda

Article appeared in California Aiseki Kai Newsletter November 2022 Issue

Thuỷ Thạch và Cúc
Võ Tấn Phát

Cúc được trồng trước tiên ở Trung Hoa vào thế kỷ 15 trước Công Nguyên. Vào thế kỷ thứ 5, Đào Tiềm điển phạm hoá cúc thành loài hoa ẩn dật, với những câu thơ “Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam” đã ghi lại mơ ước tìm được an bình giữa chốn thị thành nhộn nhịp. Giới văn nhân Trung Hoa liệt cúc vào hàng Tứ Quân Tử (cùng với mai, lan, và trúc) trong văn chương nghệ thuật. Trong cuốn Giới Tử Viên Hoạ Truyền xuất bản lần đầu tiên vào thế kỷ 17, lời nói đầu của tập Cúc Phổ đã tóm tắt những phẩm chất của của cúc mà giới sĩ phu ngưỡng mộ:

“Cúc là loài hoa kiêu hãnh; màu hoa đẹp, hương hoa đọng… Dù cúc được xếp vào loại thân thảo, những đoá hoa kiêu hãnh đối diện với giá rét và cúc được xếp chung với tùng (tức là các loài thân mộc). Thân hoa đứng đơn độc và mạnh mẽ, nhưng mềm mại như thân các loại hoa mùa xuân. Lá cúc đậm màu và trơn láng, nhưng có đầy đủ phẩm chất của các loại lá mau chóng tàn phai.”

Sau đó cúc lan truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam, và được cả giới sĩ phu Khổng Giáo lẫn giới tu sĩ Phật Giáo yêu chuộng. Người Nhật yêu thích cúc tới nỗi đã lấy cúc làm huy hiệu Hoàng Đế. Cúc đã thấm đẫm xuống mọi tầng lớp của xã hội Nhật, từ huy hiệu của triều đình, tới tranh thủy mặc của giới quý tộc, tới thơ haiku của các nhà sư, cho tới các trang trí trên những vật dụng thường ngày của nông dân. Trà thất Nhật Bản được xây với triết lý của Đào Tiềm, như một trú cư thanh bình giữa phố thị ồn ào.

Lẽ tự nhiên là một người sành thủy thạch yêu thích đá hình hoa cúc (cúc hoa thạch). Hình ảnh đóa hoa cúc thanh nhã mềm mại in trên một phiến đá cứng trong tự nhiên ắt phải là một phép mầu. Ai may mắn tìm được một hòn đá hình hoa cúc có thể huyên thuyên hàng giờ về giây phút tuyệt vời lúc tìm được hòn đá đó.

Mùa hè vừa rồi sau khi thăm viếng núi Rainier, trên đường về nhà, chúng tôi dừng lại ở sông Eel để tìm đá. Chúng tôi đã lang thang hàng mấy giờ liền dọc theo bờ sông mà không tìm được gì. Khi chúng tôi quyết định quay lại, thì tôi thấy một hòn đá hoa cúc ngay trước mặt. Chúng tôi đào lên, rửa sạch bùn đất, và mừng vui khôn xiết. Chúng tôi ngồi bên bờ sông bàn luận nên trưng bày hòn đá như thế nào. Ở một góc nhìn này thì hòn đá giống như một thi nhân Trung Hoa tóc bạc đang cầm vài đóa hoa cúc; ở một góc nhìn khác thì tựa như khóm cúc với núi Phú Sĩ ở hậu cảnh. Chúng tôi bị hòn đá làm mê hoặc đến quên cả thời gian, khi quay lại chỗ đậu xe chúng tôi phải lần mò trong đêm tối cả nửa giờ.

Hoa cúc cũng là biểu tượng mùa thu của Việt Nam một thời xa xưa, nhưng khi chúng tôi lớn lên thì cúc lại rất quen thuộc vào dịp Tết. Ở Mỹ chúng tôi cũng mua cúc về đón Tết và tưởng nhớ những người thân đã mất.

Trong khi đá hoa cúc thì cực kỳ hiếm, hoa cúc lại rất thông thường hôm nay. Chúng ta không thể bước vào bất kỳ ngôi chợ hay vườn cây nào mà không thấy hoa cúc vàng đâu đó. Chúng ta thường mua cả bó hoa mà không chút bận tâm, và không thèm bỏ thời gian ra để nhận biết hương thơm mỗi loại hoa, nói gì đến hương cúc. Rồi chúng ta sẵn sàng đổ cả bình hoa đi khi có dấu hiệu một đóa hoa tàn hay một chiếc lá úa. Đời sống hiện đại quá tiện lợi nên ta làm sao biết được điều tuyệt diệu khi chậm rãi thưởng thức từng nét đổi thay của mỗi đóa cúc. Và ta cũng thiếu vắng những bất ngờ giản dị mà cổ nhân từng thụ hưởng.

úa tàn
mà sao cúc
trổ hoa
— Ba Tiêu

A walk in Izumosaki with Rev. Tenge on an autumn day — Ryokan Taigu

Ryokan’s Gogo-an (thatched hut)
Ryokan’s Gogo-an (thatched hut)

A walk in Izumosaki with Rev. Tenge on an autumn day
Ryokan Taigu
Translated by Kazuaki Tanahashi

Human life is like a blade of grass
floating downstream.
How can one respond to such a situation?
I live this way not without reason.
Waving my belled staff, I parted from my family;
raising my hands, I bade the town farewell.
I keep repairing my patched robe.
Who knows how many springs this begging bowl has seen?
I happen to love the quietude of a grass hut.
Two of a similar spirit have met;
who can distinguish host from guest?
The wind high, the pine a thousand feet tall,
chrysanthemum blossoms chilly with frost—
with our hands holding what is outside the secular world,
we forget everything on this serene shore.

Source: https://terebess.hu/zen/mesterek/Ryokan-Tanahashi.doc

Ryokan’s Gogo-an (thatched hut): https://terebess.hu/english/haiku/ryokan.html


Bada Shanren’s chrysanthemum ink painting. British Museum.
Bada Shanren’s chrysanthemum ink painting. British Museum.


Mùa thu dạo bước ở Izumosaki với thiền sư Taige

Lương Khoan Đại Ngu
Võ Tấn Phát dịch từ bản dịch Anh ngữ

Đời người như lá cỏ
trôi nổi theo dòng sông.
Người đời cứ tất tả
ta thuận theo nhân duyên.
Vẫy gậy rời gia quyến
giơ tay biệt quê nhà.
Y rách cứ vá mãi
bát sờn, bao suối sông.
Ta như nhiên tự tại
mến thảo am lặng im.
Khi ý hợp tâm đầu
chủ, khách không khác biệt.
Gió cao, thông nghìn thước,
khóm cúc lạnh giá sương.
Thỏng tay ngoài thế sự
vô tâm bên sông yên.

Bada Shanren’s chrysanthemum ink painting: https://www.britishmuseum.org/collection/object/A_1926-1012-0-3

White Chrysanthemums — Ōtagaki Rengetsu

Otagaki Rengetsu, White Chrysanthemums
Otagaki Rengetsu, White Chrysanthemums


White Chrysanthemums (painting with waka)

Ōtagaki Rengetsu

White chrysanthemums
near my pillow
perfume the night
these dreams of many nights of
autumn will not return

shiragiku no
makura ni chikaku
kaoru yo wa
yume mo ikuyo no
aki kaeruran

Source: https://asia.si.edu/object/F1997.14/#object-content

Another English translation

White chrysanthemums
near my pillow
scent the night…
in my dream how many
autumns did I pass through?

Shiragiku no
makura ni chikaku
kaoru yo wa
yume mo ikuyo no
aki ka he nu ran

しらぎくの
まくらに近く
かをるよは
夢もいく世の
秋か経ぬらん

Source: http://rengetsu.org/poetry_db/index.php?pageNo=1 (Waka #151)

Ōtagaki Rengetsu 大田垣蓮月 (1791-1875): famous Buddhist Nun, poet, painter, ceramicist.

Waka (倭歌 or 和歌) literally “Japanese poem”, a type of Japanese classical poetry

Biography: http://rengetsu.org/life/biography/

Cúc Trắng (Tranh thủy mặc với Hoà ca)
Ōtagaki Rengetsu (Thái Điền Viên Liên Nguyệt)
Võ Tấn Phát dịch

(Bản dịch 1)
Những đóa cúc trắng
cạnh chiếc gối của tôi
tỏa hương đêm
những giấc mơ về những đêm
thu không bao giờ trở lại.

(Bản dịch 2)
Cúc trắng
cạnh gối tôi nằm
tỏa hương đêm…
trong giấc mơ bao nhiêu
mùa thu tôi đã qua.

Thái Điền Viên, Liên Nguyệt – Ōtagaki Rengetsu 大田垣蓮月 (1791-1875): ni sư, thi sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ gốm.

Hoà ca – Waka (倭歌 or 和歌): một hình thức cổ thi Nhật Bản

Too Loud a Solitude — Bohumil Hrabal

New York City Library Walk, Plaque 43
New York City Library Walk, Plaque 43


Too Loud a Solitude

Bohumil Hrabal
Translation into English by Michael Henry Heim

Chapter 1 (Excerpt)

For thirty-five years now I’ve been in wastepaper, and it’s my love story. For thirty-five years I’ve been compacting wastepaper and books, smearing myself with letters until I’ve come to look like my encyclopedias — and a good three tons of them I’ve compacted over the years. I am a jug filled with water both magic and plain; I have only to lean over and a stream of beautiful thoughts flows out of me. My education has been so unwitting I can’t quite tell which of my thoughts come from me and which from my books, but that’s how I’ve stayed attuned to myself and the world around me for the past thirty-five years. Because when I read, I don’t really read; I pop a beautiful sentence into my mouth and suck it like a fruit drop, or I sip it like a liqueur until the thought dissolves in me like alcohol, infusing brain and heart and coursing on through the veins to the root of each blood vessel. In an average month I compact two tons of books, but to muster the strength for my godly labors I’ve drunk so much beer over the past thirty-five years that it could fill an Olympic pool, an entire fish hatchery. Such wisdom as I have has come to me unwittingly, and I look on my brain as a mass of hydraulically compacted thoughts, a bale of ideas, and my head as a smooth, shiny Aladdin’s lamp. How much more beautiful it must have been in the days when the only place a thought could make its mark was the human brain and anybody wanting to squelch ideas had to compact human heads, but even that wouldn’t have helped, because real thoughts come from outside and travel with us like the noodle soup we take to work; in other words, inquisitors burn books in vain. If a book has anything to say, it burns with a quiet laugh, because any book worth its salt points up and out of itself. I’ve just bought one of those minuscule adder-subtractor-square-rooters, a tiny little contraption no bigger than a wallet, and after screwing up my courage I pried open the back with a screwdriver, and was I shocked and tickled to find nothing but an even tinier contraption — smaller than a postage stamp and thinner than ten pages of a book — that and air, air charged with mathematical variations. When my eye lands on a real book and looks past the printed word, what it sees is disembodied thoughts flying through air, gliding on air, living off air, returning to air, because in the end everything is air, just as the host is and is not the blood of Christ.

Source: https://www.amazon.com/Too-Loud-Solitude-Bohumil-Hrabal/dp/0156904586?ots=1&tag=thneyo0f-20&linkCode=w50

Bohumil Hrabal
Bohumil Hrabal

Quá Ồn Một Nỗi Cô Đơn
Bohumil Hrabal
Michael Henry Heim dịch sang Anh Ngữ
Võ Tấn Phát dịch Việt

Chương 1 (Trích)

Trong ba mươi lăm năm rồi tôi làm việc trong ngành giấy loại, và đó là chuyện tình đời tôi. Trong ba mươi lăm năm rồi tôi đã nén giấy loại và sách, bôi chữ lên bản thân cho tới khi tôi giống như những cuốn bách khoa toàn thư của tôi — hơn ba tấn giấy tôi đã nén hết chừng ấy năm. Tôi là một cái bình chứa nước, cả loại kỳ diệu lẫn loại thường; tôi chỉ cần nghiêng qua là cả một dòng ý nghĩ tuyệt vời chảy khỏi người tôi. Học vấn của tôi không có chủ đích gì nên tôi chẳng biết trong những ý nghĩ của tôi cái nào là từ chính tôi còn cái nào là từ sách vở, nhưng đó là cách tôi thích nghi với bản thân và với thế giới quanh tôi trong ba mươi lăm năm rồi. Bởi vì khi tôi đọc, tôi không chỉ đọc; tôi bỏ một câu văn đẹp vào miệng và mút nó như một viên kẹo trái cây, hoặc nhâm nhi nó như rượu mạnh, cho đến khi nó tan vào tôi như rượu cồn, thấm vào tim vào óc và chảy qua cơ thể tới cội nguồn của từng mạch máu. Trung bình một tháng tôi nén hai tấn sách, nhưng để có đủ sức làm công việc phi thường đó tôi phải uống quá nhiều bia trong ba mươi lăm năm, tới mức có thể đổ đầy một hồ bơi Olympic, hay một bể nuôi cá giống. Sự thông tuệ đó tôi đạt được không do chủ ý của tôi, và tôi coi óc tôi là một khối ý nghĩ được máy nén chặt xuống, một kiện ý tưởng, còn đầu tôi là một cái đèn bóng loáng của Aladdin. Đẹp đẽ xiết bao những ngày xưa đó khi một ý nghĩ chỉ tạo ra ảnh hưởng từ khối óc của con người, và kẻ nào muốn dập tắt ý nghĩ thì phải nghiến ép đầu người, nhưng dẫu thế cũng chẳng ăn thua, vì ý nghĩ thực sự đến từ bên ngoài và song hành với ta như món xúp mì sợi ta mang theo đi làm; nói cách khác, những pháp quan của toà án dị giáo đốt sách chỉ hoài công. Nếu một cuốn sách có điều gì đáng nói, thì nó vừa cháy vừa cười thầm, vì sách giá trị thì đáng giá hơn những gì nằm trong sách. Tôi vừa mua một cái máy tính cộng-trừ-bình phương-tính căn, một cái máy không lớn hơn cái ví đàn ông, và sau khi đã lấy hết can đảm tôi mở nắp sau của cái máy tính, để rồi vừa sốc vừa tức cười khi thấy nó không có gì ngoài cái máy nhỏ hơn — nhỏ hơn một con tem bưu điện và mỏng hơn mười trang sách — và không khí, không khí chứa đầy những biến số toán học. Khi mắt tôi chạm vào sách và nhìn vượt ra ngoài chữ in trên đó, con mắt thấy những ý nghĩ tách rời ra, bay trong không khí, lượn trên không khí, sống bằng không khí, và trở về với không khí, bởi vì cuối cùng thì mọi thứ đều là không khí, hệt như bánh thánh vừa là mà cũng vừa không phải là máu thịt của Chúa Giê-su.

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)


The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

General principles of composing the plant
Ch’ing Tsai T’ang
Translation from Chinese by Mai-mai Sze

The chrysanthemum is a flower of proud disposition; its color is beautiful, its fragrance lingers. To paint it, one must hold in his heart a conception of the flower whole and complete. Only in this way can that essence be transmitted in a painting. Some of its flowers should bend and some face upward; they should never be too numerous. Some of its leaves should be covered and some face upward, never in disorder. In brief, each branch, each leaf, each flower, each bud, must be rendered in its own full character.

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

Although the chrysanthemum is usually placed in the category of herbaceous plants, its proud blossoms brave the frost and it is classed with the pine (i.e., with trees and ligneous plants). Its stem is solitary and strong, yet as supple as the stems of spring flowers. Its leaves are rich and sleek, yet they have aspects of varied as those that quickly fade. Its blossoms and buds should be shown in different stages of development, each in relation to another. The essence (li) of the plant should be kept in mind, whether the stem is bent or straight: when the flowers are fully opened, the stem is weighted and therefore bends, while a stem bearing only buds is naturally lighter and stands straighter. A straight stem should not, however, be drawn as though it were rigid, nor should an inclined stem bend too far. These are general rules of painting the plant. Specific methods apply to the painting of each part, the flower, calyx, stem, leaf, and base.

Note:

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (芥子園畫傳): Manual of Chinese paintings first printed in early Qing Dynasty.

Picture source: https://i.cafa.edu.cn/waterprint/en/enanciebwnl/?x=300002011

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)


Giới Tử Viên Hoạ Truyền (Cúc phổ)

Các nguyên tắc chung khi vẽ cúc
Ch’ing Tsai T’ang
Mai-mai Sze dịch từ Trung Văn sang Anh Ngữ
Võ Tấn Phát dịch

Cúc là loài hoa kiêu hãnh; màu hoa đẹp, hương hoa đọng. Để vẽ cúc, ta phải giữ trong tâm trí trọn vẹn hình ý của cúc. Chỉ khi đó tất cả tinh anh mới truyền vào bức họa. Một vài đóa hoa trĩu xuống và một số khác đứng thẳng; nhưng không nên quá nhiều hoa. Một số lá bị che phủ và một số lá khác ngửa mặt, nhưng không bao giờ lộn xộn. Tóm lại, từng thân cây, từng lá, từng đoá, từng nụ, phải được vẽ để lột tả hết thần thái.

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

Dù cúc được xếp vào loại thân thảo, những đoá hoa kiêu hãnh đối diện với giá rét và cúc được xếp chung với tùng (tức là các loài thân mộc). Thân hoa đứng đơn độc và mạnh mẽ, nhưng mềm mại như thân các loại hoa mùa xuân. Lá cúc đậm màu và trơn láng, nhưng có đầy đủ phẩm chất của các loại lá mau chóng tàn phai. Trí [của họa sĩ] phải nắm được nghĩa lý của cây, dù thân cây thẳng hay cong: khi các đóa hoa đã nở rộ, thân cây bị trĩu nặng vì thế phải cong, còn một thân cây chỉ toàn nụ dĩ nhiên sẽ nhẹ hơn và đứng thẳng. Tuy vậy một thân cây đứng thẳng không nên cứng ngắt, còn một thân cây trĩu xuống không nên cong quá mức. Đây là những nguyên tắc chung để vẽ cúc. Những phương pháp đặc biệt được áp dụng để vẽ từng phần: hoa, đài hoa, thân, lá, và gốc.


Chú thích:

Giới Tử Viên Hoạ Truyền (芥子園畫傳): Cẩm nang dạy vẽ, được in lần đầu tiên vào thời Khang Hy nhà Thanh.

Hình từ trang: https://i.cafa.edu.cn/waterprint/en/enanciebwnl/?x=300002011

Chrysanthemum by Piet Mondrian — Jennifer Blessing

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Chrysanthemum by Piet Mondrian

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Jennifer Blessing

For more than a decade after graduating from art school in 1897, Piet Mondrian created naturalistic drawings and paintings that reflect a succession of stylistic influences including academic realism, Dutch Impressionism, and Symbolism. During this period and intermittently until the mid-1920s Mondrian created more than a hundred pictures of flowers. Reflecting years later on his attraction to the subject, he wrote, “I enjoyed painting flowers, not bouquets, but a single flower at a time, in order that I might better express its plastic structure.” The heavy crooked line of Chrysanthemum suggests Mondrian’s debt to Post-Impressionism, specifically the work of Vincent van Gogh. In 1909 Mondrian became interested in theosophy, a type of philosophical mysticism that seeks to disclose the concealed essences of reality. “I too find flowers beautiful in their exterior beauty,” he wrote a few years later, “yet there is hidden within a deeper beauty.”

Link: https://www.guggenheim.org/artwork/2999

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Chrysanthemum by Piet Mondrian

Hoa Cúc – tranh của Piet Mondrian
Jennifer Blessing
Võ Tấn Phát dịch

Trong vòng một thập niên sau khi tốt nghiệp trường hội họa vào năm 1897, Piet Mondrian đã vẽ cả hình họa và tranh theo lối tự nhiên, cho thấy một loạt những ảnh hưởng của nhiều phong cách bao gồm trường phái hiện thực hàn lâm, trường phái ấn tượng Hà Lan, và trường phái tượng trưng. Trong thời kỳ này và thỉnh thoảng cho tới tận giữa thập niên 1920 Mondrian đã vẽ hơn 100 bức tranh hoa. Nhiều năm về sau khi hồi tưởng lại sức hấp dẫn của chủ đề này với ông, ông viết: “Tôi yêu thích vẽ hoa, không phải nguyên cả bó, mà từng đóa một, để tôi có thể diễn tả hết cấu trúc mềm dẻo của nó”. Đường vẽ cong và đậm nét của đóa hoa cúc cho thấy ảnh hưởng của trường phái hậu ấn tượng lên Mondrian, đặc biệt là tranh của Van Gogh. Năm 1909 Mondrian quan tâm tới thuyết thần trí, một chủ nghĩa thần bí triết học tìm cách hiển lộ những bản chất bị che phủ của thực tại. Ông đã viết một vài năm sau đó: “Tôi thấy bề ngoài hoa cũng đẹp, nhưng ẩn sâu bên trong là vẻ đẹp sâu sắc hơn nhiều”.

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Chrysanthemum by Piet Mondrian


Picture sources:
https://www.guggenheim.org/artwork/2999
https://www.piet-mondrian.org/chrysanthemum.jsp
https://rkd.nl/nl/explore/images/276180