Photo credit: Thuy Doan

I made this lacquer piece in 1989-1990 under the tutorage of my teacher Thuy Doan. We did everything from A to Z, and it took several months to complete it.

Mình học làm bức tranh sơn mài này vào năm 1989-1990 dưới sự hướng dẫn của chú Đoàn Thanh Thuỷ. Hai thày trò làm hết mọi công đoạn và mất vài tháng mới xong.



The problem with only liking things we find relatable

The problem with only liking things we find relatable
Charmaine Craig

In addition to being a novelist, I teach fiction at a university. And something that drives me crazy is students rejecting a piece of writing because it’s not relatable,” or because its characters aren’t likable. Recently, I was teaching “Anna Karenina,” and one of my brightest graduate students wrote off the novel because she found the characters’ thinking to be too different from her own.

Well, maybe literature isn’t here to hold a mirror up to our own way of thinking. The word relatable is relatively new, and it strikes me as more than a coincidence that its rise correlates with that of Facebook and its culture of likes. When we say we like something, we’re really describing ourselves more than the thing we like. That character, that photo, that idea reflects my preferences, my outlooks, my tastes, me.

There’s nothing wrong with liking or disliking, but when we only like things we find relatable, or we are only interested in people we find likeable, we’re implicitly holding up narcissism and conformity, and we’re critiquing difference.

I grew up in this country, and there’s no way that my peers would have described me as relatable when I was young. I was shy to the point of extreme awkwardness, this height 5’8″ at age 11, terrible at team sports, and impossible to categorize racially or culturally. My father was a descendent of people who arrived on the Mayflower, and my mother, a mixed-race refugee from the country now called Myanmar, also known as Burma.

Partly because I’m culturally and ethnically kind of anomalous, I’ve rarely related to people in my life. But that doesn’t mean I haven’t learned from and respected and felt for them. And that’s really what I want to say: that there’s a difference between relating or liking, in our current sense, and being curious and empathic.

Would I rather people like my novel or be affected by it finally? To be moved or affected by a piece of literature isn’t necessarily to see ourselves reflected in it or to like everything about it, we might disapprove of or want to fight with its characters; we might never have been exposed to the kinds of social settings or modes of thinking it describes.

And yet, if we open ourselves to such a piece of literature — to a novel like “Anna Karenina” that attentively describes other human beings, with all their passions, foibles and insights — we might find it opening itself to us, in turn. We might even feel something like love emanating from its pages, a love that comes with an author’s feeling for humanity, for readers, and for characters that, in life, might at first be very difficult to relate to or like.


Khi chỉ thích những gì ta cảm được
Charmaine Craig
Võ Tấn Phát dịch

Bên cạnh việc viết tiểu thuyết, tôi cũng dạy văn chương ở đại học. Và cái làm tôi điên lên là khi sinh viên từ chối đọc một cuốn sách chỉ vì “nó không cảm thông được (relatable)”, hay vì những nhân vật không dễ mến. Mới đây, tôi dạy về cuốn “Anna Karenina”, và một trong những học sinh hậu đại học giỏi nhất của tôi đã coi thường cuốn tiểu thuyết vì cô thấy lối suy nghĩ của các nhân vật quá khác biệt với cô.

À, có lẽ văn chương không phải là cầm gương lên soi lối suy nghĩ của chính mình. Cái từ cảm thông (relatable) thì khá mới, và tôi thấy không phải là tình cờ khi nó trỗi dậy cùng với Facebook và văn hoá like. Khi ta thích cái gì đó, ta thực sự bộc lộ bản thân hơn là cái thứ ta thích. Nhân vật đó, bức ảnh đó, ý tưởng đó phản ánh những yêu thích của tôi, thế giới quan của tôi, thị hiếu của tôi, tôi.

Không có gì sai trong chuyện thích hay không thích, nhưng khi chúng ta chỉ thích những thứ chúng ta thấy cảm thông được, hay khi chúng ta chỉ quan tâm tới những người chúng ta thấy dễ mến, chúng ta ngấm ngầm đề cao tính tự yêu và theo đuôi, và chỉ trích sự khác biệt.

Tôi lớn lên ở đất nước này, và bạn bè tôi không thể nào mô tả tôi là một đứa cảm thông được khi tôi còn nhỏ. Tôi rụt rè tới mức cực kỳ vụng về, cao tới 1.7 mét ở tuổi 11, chơi thể thao dở tệ, và không thể xếp vào chủng tộc hay nền văn hoá nào. Cha tôi là hậu duệ của những người Mỹ lập quốc đã đến từ chiếc tàu Mayflower, còn mẹ tôi là một người tị nạn đa chủng đến từ Miến Điện.

Một phần vì tôi thuộc loại dị thường về văn hoá và chủng tộc, tôi ít thấy liên hệ với ai đó trong đời tôi. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không học hỏi được hay kính trọng hay cảm thông cho họ. Và đó là điều tôi muốn nói ở đây: có sự khác nhau giữa liên hệ hay thích, với hiếu kỳ và thấu hiểu.

Như thế tôi muốn độc giả thích tiểu thuyết của tôi hay xúc động sau đó? Cảm động vì một tác phẩm văn chương không nhất thiết phải thấy mình trong đó hay thích mọi thứ trong đó. Chúng ta có thể không đồng ý hay muốn chống lại với những nhân vật trong đó; chúng ta có thể không bao giờ được trải nghiệm với môi trường xã hội hay lối suy nghĩ nó mô tả.

Vì vậy, nếu chúng ta mở hồn mình cho một tác phẩm văn chương như thế — với một cuốn tiểu thuyết như “Anna Karenina”, một cuốn sách vẽ ra những người khác một cách thấu đáo, với những đam mê, nhược điểm và tâm trạng của họ — thì ta có thể thấy được cuốn sách đến lượt nó lại mở lòng ra cho ta. Ta thậm chí có thể cảm được tình yêu tỏa ra từ những trang sách, một tình yêu đến từ sự cảm thông của tác giả cho nhân loại, cho độc giả, cho những nhân vật, mà trong đời thực, khi mới gặp qua thì khó mà cảm hay thích được.

Lantingji Xu

Lantingji Xu – Photo credit: Wikipedia

Lantingji Xu (蘭亭集序), or Preface to the Poems Composed at the Orchid Pavilion, by Wang Xizhi (王羲之; 303–361) is not only considered the masterpiece of Chinese calligraphy, but also the sentiments expressed in this preface is timeless. Many times on a tanseki (rock hunting trip) with our friends on a bank of a river in America, we felt the same way as these Chinese scholars did centuries ago.

Wang Xizhi – Photo credit: Wikipedia

Preface to the Poems Composed at the Orchid Pavilion
Wang Xizhi

On this late spring day, the ninth year of Yonghe (AD 353), we gathered at the Orchid Pavilion in Shaoxing to observe the Spring Purification Festival. All of the prominent people were there, from old to young. High mountains and luxuriant bamboo groves lie in the back; a limpid, swift stream gurgles around, which reflected the sunlight as it flowed past either side of the pavilion. We sat by the water, sharing wine from a floating goblet while chanting poems, which gave us delight in spite of the absence of musical accompaniment. This is a sunny day with a gentle valley breeze. Spreading before the eye is the beauty of nature, and hanging high is the immeasurable universe. This is perfect for an aspired mind. What a joy.

Though born with different personalities – some give vent to their sentiment in a quiet chat while others repose their aspiration in Bohemianism – people find pleasure in what they pursue and never feel tired of it. Sometimes they pause to recall the days lapsed away. Realizing that what fascinated yesterday is a mere memory today, not to mention that everyone will return to nothingness, an unsuppressible sorrow would well up. Isn’t it sad to think of it?

I am often moved by ancients’ sentimental lines which lamented the swiftness and uncertainty of life. When future generations look back to my time, it will probably be similar to how I now think of the past. What a shame! Therefore, when I list out the people that were here, and record their musings, even though times and circumstances will change, as for the things that we regret, they are the same. For the people who read this in future generations, perhaps you will likewise be moved by my words. 




Lan Đình Tập Tự của Vương Hi Chi không những chỉ là một tuyệt tác thư pháp của Trung Hoa, mà những cảm xúc trong bài tựa không hề cũ. Trong nhiều chuyến lượm đá với bạn bè trên bờ sông ở Mỹ nhiều lúc man mác những cảm nghĩ hệt như các học giả Trung Hoa hàng ngàn năm trước.


Bài Tựa Tập Thơ Lan Đình
Vương Hi Chi
Nguyễn Hiến Lê dịch

Năm thứ chín niên hiệu Vĩnh Hoà nhằm năm Quí Sửu, đầu tháng ba, hội ở Lan Đình tại huyện Sơn Âm, quận Cối Kê để cử hành lễ tu hễ. Quần hiền tới đủ, già trẻ đều họp. Nơi đó có núi cao, đỉnh lớn, rừng rậm, trúc dài, lại có dòng trong chảy xiết, chiếu quanh hai bên, dẫn nước uốn khúc là chỗ thả chén. Mọi người ngồi theo thứ tự. Tuy không có tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng quản, tiếng huyền cho vui tai, nhưng uống một hớp rượu, ngâm một câu thơ, cũng đủ sướng u tình. Hôm đó khí trời trong sáng, gió nhẹ lâng lâng, ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật muôn vẻ, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để hưởng hết cái thú của tai mắt, thực là vui vậy.

Người ta cùng cúi ngửa trong đời, có người đem cái hoài bão của mình ra đàm đạo với bạn bè trong một nhà, có kẻ gởi tấm lòng ở một sự tình gì mà phóng lãng ở ngoài hình hài; hai hạng người đó tuy thủ xả tĩnh động khác nhau, nhưng đương lúc cái già sắp tới, kịp đến khi mỏi mệt, tình ý theo thế sự mà thay đổi, thì đều sinh ra cảm khái. Cái mà trước kia vui trong lúc cuối ngửa, nay đã thành ra vết cũ, mà nhớ lại lòng không thể không hoài cảm. Huống đời người dài ngắn do trời, nhưng đều qui về cõi chết cả. Cổ nhân nói: “Tử sinh đều là việc lớn”, há chẳng đau lòng thay!

Mỗi khi xét nguyên do người đời xưa cảm khái như in với người đời nay, không lần nào đọc văn người trước mà không than thở buồn rầu, trong lòng không hiểu tại sao. Cho nên bảo sinh tử cũng như nhau là lời hư ngoa; bảo Bành Tổ không hơn gì kẻ chết yểu[16] là lời nói láo. Người đời sau nhìn lại đời bây giờ cũng như người bây giờ nhìn lại đời xưa, buồn thay!

Vì vậy tôi chép lại chuyện người trong tiệc, sao lục thơ họ làm, tuy đời và việc đều khác nhưng lẽ sở dĩ cảm khái thì là một. Người đời sau đọc bài này chắc không khỏi bùi ngùi.


Conversation with a Stone – Wislawa Szymborska

Kern River stone. Photo by Mas Nakashima and Janet Roth

Conversation with a Stone
Wislawa Szymborska

I knock at the stone’s front door
“It’s only me, let me come in.
I want to enter your insides,
have a look around,
breathe my fill of you.”

“Go away,” says the stone.
“I’m shut tight.
Even if you break me to pieces,
we’ll all still be closed.
You can grind us to sand,
we still won’t let you in.”

I knock at the stone’s front door.
“It’s only me, let me come in.
I’ve come out of pure curiosity.
Only life can quench it.
I mean to stroll through your palace,
then go calling on a leaf, a drop of water.
I don’t have much time.
My mortality should touch you.”

“I’m made of stone,” says the stone.
“And must therefore keep a straight face.
Go away.
I don’t have the muscles to laugh.”

I knock at the stone’s front door.
“It’s only me, let me come in.
I hear you have great empty halls inside you,
unseen, their beauty in vain,
soundless, not echoing anyone’s steps.
Admit you don’t know them well yourself.

“Great and empty, true enough,” says the stone,
“but there isn’t any room.
Beautiful, perhaps, but not to the taste
of your poor senses.
You may get to know me but you’ll never know me through.
My whole surface is turned toward you,
all my insides turned away.”

I knock at the stone’s front door.
“It’s only me, let me come in.
I don’t seek refuge for eternity.
I’m not unhappy.
I’m not homeless.
My world is worth returning to.
I’ll enter and exit empty-handed.
And my proof I was there
will be only words,
which no one will believe.”

“You shall not enter,” says the stone.
“You lack the sense of taking part.
No other sense can make up for your missing sense of taking part.
Even sight heightened to become all-seeing
will do you no good without a sense of taking part.
You shall not enter, you have only a sense of what that sense should be,
only its seed, imagination.”

I knock at the stone’s front door.
“It’s only me, let me come in.
I haven’t got two thousand centuries,
so let me come under your roof.”

“If you don’t believe me,” says the stone,
“just ask the leaf, it will tell you the same.
Ask a drop of water, it will say what the leaf has said.
And, finally, ask a hair from your own head.
I am bursting from laughter, yes, laughter, vast laughter,
although I don’t know how to laugh.”

I knock at the stone’s front door.
“It’s only me, let me come in.

“I don’t have a door,” says the stone.

From “Poems New and Collected: 1957-1997” by Wislawa Szymborska, translated from the Polish by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh (Harcourt Brace: 274 pp., $27)



Đối thoại với một hòn đá

Wislawa Szymborska
Hoàng Ngọc-Tuấn dịch

Tôi gõ lên cửa của đá.
— Tôi đây, cho tôi vào.
Tôi muốn vào bên trong,
nhìn khắp chung quanh; hít thở hương vị của bạn.

— Đi chỗ khác —, hòn đá nói.
Tôi khép chặt:
ngay cả bị đập vỡ thành từng mảnh
các mảnh cũng khép kín, chặt chẽ.
Ngay cả bị nghiền thành cát
mỗi hạt cát cũng không cho ai vào.

Tôi gõ lên cửa của đá.
— Tôi đây, cho tôi vào.
Tôi đến đây vì óc tò mò thuần tuý;
tôi chỉ có thể làm điều ấy ở phía bên này của cái chết.
Tôi dự định đi lang thang qua cung điện của bạn,
rồi trở về với chiếc lá, giọt nước.
Thời giờ của tôi ngắn ngủi —
chắc chắn sự khả tử của tôi làm bạn mủi lòng.

— Tôi là đá — hòn đá nói —
và vì thế phải giữ nghiêm trọng.
Hãy đi khỏi chỗ này —
tiếng cười tươi mát ở ngoài tầm tay tôi.

Tôi gõ lên cửa của đá.
— Tôi đây, cho tôi vào.
Tôi đã nghe nói đến những sảnh đường mênh mông trống vắng của bạn,
đẹp một cách khô khan, chưa ai nhìn thấy,
không âm thanh, không đồng vọng, không vết chân.
Hãy thú nhận, ngay cả bạn cũng không biết gì mấy về điều này.

— Những sảnh đường mênh mông, trống vắng — hòn đá nói —
nhưng không có căn phòng nào trong đó.
Đẹp, có lẽ thế; nhưng xa lạ
đối với những cảm nhận nghèo nàn của bạn.
Bạn có thể nhận biết tôi; nhưng kinh nghiệm về tôi — không bao giờ.
Trọn vẹn ngoại diện của tôi xoay về phía bạn;
trọn vẹn nội giới của tôi xoay về hướng khác.

Tôi gõ lên cửa của đá.
— Tôi đây, cho tôi vào.
Tôi không tìm kiếm thánh địa cho sự vĩnh cửu.
Chẳng phải tôi không vui; chẳng phải tôi vô gia cư;
thế giới của tôi đáng được trở về.
Tôi sẽ bước vào trong bạn, rồi ra đi, hai bàn tay trắng.
Bằng chứng duy nhất rằng tôi đã ở đó, thật vậy,
sẽ là những hàng chữ — và ai sẽ tin chúng?

— Bạn sẽ không bước vào — hòn đá nói. —
Bạn không có ý niệm về tính cách của đá;
tất cả những vật thể thế vì của bạn đều vô dụng.
Ngay cả đôi mắt sắc bén hơn, đôi mắt tia-X —
chúng có ích gì, đối diện với mặt bên kia của tôi?
Bạn sẽ không bước vào: bạn chỉ có những dự định, thế thôi —
những phác thảo sơ sài về cái bóng của tôi, những tưởng tượng non nớt.

Tôi gõ lên cửa của đá.
— Tôi đây, cho tôi vào.
Tôi không thể đợi hai ngàn kiếp
để được vào dưới mái nhà bạn.

— Nếu bạn không tin tôi — hòn đá nói —
hãy trở về với chiếc lá; nó sẽ kể câu chuyện của tôi:
giọt nước cũng sẽ nói y như thế.
Cuối cùng, hãy hỏi một sợi tóc trên đầu bạn.

Tôi cười; đang nổ tung ra với tiếng cười,
tiếng cười khổng lồ,
mặc dù tôi không thể cười.

Tôi gõ lên cửa của đá.
— Tôi đây, cho tôi vào.

— Tôi không có cửa — hòn đá nói.


Dịch từ bản Anh văn của Vuyelwa Carlin: “Three words most strange” và “Conversation with a stone”, trong chùm thơ của Wislawa Szymborska đăng trên tập san The Kenyon Review, New Series, Vol. XXIII No.2 [The Centennial Celebration of the Nobel Prizes (số đặc biệt kỷ niệm 100 năm Giải Thưởng Nobel)], 89-92.


Little Sister visiting Dad

My sister, the second youngest sibling of eight in our family, and her family, husband and kid, came to visit our father in America this September 2018. I took a few days off from work to take them to the Huntington Library. And the next day I drove them and another sister of ours to the Sequoia National Park, which was about 5 hours from Little Saigon. We all had so much fun, especially with the little kid of 5 who could sweet talk any US President into buying America from him for sure. Here was an example. Within a few minutes in a supermarket, he changed his strategies to persuade his mom to buy him a bag of potato chip 3 times after getting rejected every time: 1) Please buy this for me; 2) Please buy this for my dear cousin; 3) I will buy you candy because you let me eat this bag of potato chip.


We all had so much fun. Dad was please with us and little kids around. And we all enjoyed her husband’s super cooking.



I tried to escape Vietnam a couple times, and when I finally left Vietnam she was only 11. We met years later in Việt Nam. Now we met again in America for a few days. She is a smart and strong woman with wonderful family. We could talk for hours about lots of things, just like best friends. But when we said goodbye she was again just a little kid of 11 as I saw her years ago.


Đứa em gần út và gia đình gồm chồng và một thằng con rất liếng sang thăm ba cuối tháng 9 năm 2018. Mình lấy vài ngày nghỉ chở gia đình em mình đi thăm Huntington Library. Ngày hôm sau lại chở thêm một cô em gái khác đi thăm Công viên Quốc Gia Sequoia (Cự Sam) cách Little Saigon 5 giờ lái xe. Ai cũng vui, nhất là với thằng nhóc 5 tuổi mà chắc chắn có thể dụ bán lại nước Mỹ cho bất kỳ tổng thống Mỹ nào. Thí dụ trong vài phút mà nó suy nghĩ rồi thay đổi chiến lược 3 lần để thuyết phục em mình mua cho nó bịch chip sau khi bị từ chối: 1) mua cho con đi, con thích ăn; 2) mua cho chị Ty đi; 3) con mua kẹo cho mẹ nghen vì mẹ cho con ăn cái này.


Mọi người rất vui, nhất là ba mình nhìn thấy mấy đứa con họp mặt và mấy đứa cháu quây quần. Ai cũng khoái anh chồng cô em mình, nấu món gì cũng tuyệt cú mèo.


Mình cố vượt biên một vài lần, lần cuối cùng rời Việt Nam khi cô em mình mới 11 tuổi. Rồi cả chục năm sau đó anh em mới gặp lại ở Việt Nam. Giờ cũng sau cả chục năm mới gặp lại ở Mỹ cũng chỉ được vài ngày. Em mình đã trưởng thành và mạnh mẽ với gia đình dễ thương. Hai anh em có thể nói về đủ thứ chuyện như bạn thân, vậy mà lúc chia tay chỉ nhìn thấy một con bé nhỏ xíu 11 tuổi như hồi xưa mình rời Việt Nam.


Our Sensei Mas



Our sensei Mas

First our hearts go out to Janet, Mas’ children and family, and to all of us gathering here today. And thanks for the chance to share our memories of Mas on this occasion.

We’ve known Mas and Janet for a little more than 3 years. We joined San Francisco Suiseki Kai in August 2015, went to the Klamath tanseki (stone collecting trip) with the group in September, and asked Janet and Mas if we could learn to make daiza from Mas that December. They agreed, welcomed us like old friends, and Mas then showed us how to make daiza for an uncut stone, everything from technical aspects to artistic consideration, and practically carved the daiza for our little doha from Kern River. It was inspiring to observe Mas working on the daiza, with steady hands, sharp mind, and calm manner. The daiza was so elegant that when Mas suggested that I could improve it at home, Lisa told me, “No no no.” So I just sanded and stained it. When we brought our doha to the Aisekikai exhibit the next year, Nina Ragle thought some master in Japan made the daiza for us.

That was how Mas and Janet treated the new kids on the block.

We remember Janet and Mas visiting us in February 2016. After a long drive, Janet got a terrible cold or stomach flu. There Mas took care of Janet, and spooned her with roasted rice soup broth. Mas really worried for Janet, walking around with pants rolled up, one side lower than other, like a farmer. Even in that condition, Janet still had time to name our 100 pound rock El Capitan, and Mas designed the daiza for it. Talk about people crazy about rocks!

We visited Janet and Mas at least twice a year since, in August after San Francisco Suiseki Kai exhibit, and in December after setting up the Huntington Library Aisekikai exhibit. We enjoyed their beautiful suiseki collection every time. We visited the Oakland Art Museum together; or walked around Lake Merritt; or stayed home and talked about the subtle beauty of stones beyond traditional suiseki, The Tale of Genji, our love of nature, the joy of tanseki where we could be alone together, as Janet put it; or sometimes, just sat together and admired a suiseki.

Last August we still saw Mas with his copyright shy smile. He was humble and caring as always. He asked Hideko permission for us to visit her house and to see her wonderful suiseki collection. He planned to take us to see another master’s collections of suiseki and antique furniture in December. On the last day of the exhibit Mas was very busy but still cared for others, and especially Hideko because she would want to carry heavy boxes herself.

We checked Mas and Janet’s blog regularly for some nice writings after the latest entry on the “Love” Suiseki from Black Butte Lake. On September 9 for no reason we cleaned our little doha, and rubbed tung oil on the daiza. On September 10 we displayed the doha on its base, remembered our time at Mas and Janet’s house, and were amazed again by the graceful shape of the daiza Mas designed and carved most of it. The next day we got the terrible news from San Francisco Suiseki Kai. Initial shock followed by deep sorrow. After all settled, we realized the message painfully and beautifully summed up what we all had known and how we all had felt about Mas. We wanted to be there at The Garden Center with our Suiseki group on Thursday September 13 for a hug we so much needed!

We are into suiseki, are supposedly enlightened a little, and are supposedly embracing the impermanence of life. But our hearts ache! Ache so much! There in this vastness of space and time, by a stroke of luck we somehow met for a brief moment this gentle soul, and our lives are so much richer. Oh Mas! We love you. We miss you. And so does our little doha suiseki.


Photo by Chris Ross

Heartbreaking news. Mas Nakajima passed away on September 10, 2018. He is always in our hearts.


From the SFSK


Mas Nakajima

It is with great sadness we inform our members that Mas Nakajima passed away on September 10. We don’t know details and we don’t have any plans yet for a memorial or remembrance of Mas, which will surely happen. What we do know is that our hearts are broken. Mas has been the guiding light at SFSK for many years now, assuming the mantel from his teachers and passing along his wisdom to any who wished to talk about stones. We have known him as a kind, thoughtful sensei, always supportive of our many clumsy efforts to find true suiseki, understand them, and show them to the best advantage. We have known him as a quiet, thoughtful friend, a talented artist and craftsman and a stickler for detail. His shy smile belied an ardent passion for artistic expression and particularly suiseki. He will be so greatly missed it is difficult to put into words the loss we all feel. Our hearts and prayers go out to Janet, Mas’ children and family.

At such short notice it is difficult to know how to proceed with the planned meeting for this Thursday, but several have expressed a desire to gather as a club and as friends to share our favorite stories of being with Mas, and hug each other for comfort.

So, we will be there, the Garden Center at Lake Merritt, Thursday September 13 at 7:30.


Mas Nakajima

Chúng tôi vô cùng đau buồn báo tin cho các hội viên rằng Mas Nakajima đã qua đời ngày 10 tháng 9. Chúng tôi không biết hết chi tiết và chưa có dự tính để tưởng niệm Mas, nhưng chắc chắn sẽ có. Nhưng chúng tôi biết rằng tim mình đang tan nát. Mas là ánh sáng dẫn đường cho SFSK (San Francisco Thủy Thạch Hội) trong nhiều năm trời, tiếp nối vai trò của các vị thầy của ông và trao truyền sự minh triết của mình cho bất cứ ai muốn đàm luận về đá. Chúng tôi biết về ông như một vị thầy tốt bụng, chu đáo, luôn ủng hộ những cố gắng dù rất vụng về của chúng tôi nhằm tìm ra thủy thạch, hiểu rõ về chúng, và trình bày phía đẹp nhất ra. Chúng tôi biết về ông như một người bạn rất ít nói, ân cần, một nghệ sĩ và một nghệ nhân tài năng, khe khắt đến từng chi tiết. Nụ cười rụt rè của ông che dấu một đam mê nghệ thuật mãnh liệt và đặc biệt là thủy thạch. Đây là một mất mát lớn lao. Khó có thể diễn tả bằng lời nỗi mất mát trong lòng tất cả chúng tôi. Xin thành thật chia buồn cùng Janet, với các con của Mas và gia quyến.

Vì thời gian quá đột ngột chúng tôi không biết phải làm gì trong cuộc họp định sẵn vào thứ 5 tuần này, nhưng nhiều người muốn họp mặt, với tư cách hội viên cũng như là bạn bè để ôn lại những kỷ niệm về Mas, và để vòng tay ôm siết nhau san sẻ nỗi đau buồn này.

Vì vậy, chúng tôi sẽ đến đó, Garden Center ở Lake Merritt, thứ 5 ngày 13 tháng 9, lúc 7:30.


Hideko’s Stone

Hòn đá của Hideko

Janet Roth
Võ Tấn Phát dịch

Hideko Metaxas tìm thấy hòn đá này nhiều năm trước ở sông Klamath. Giống như nhiều viên thủy thạch tuyệt hảo, nó nằm phơi phía mặt đẹp nhất lên, dường như chờ đợi được ai đó tìm ra. Hideko nói về viên đá này:

Khi tôi tìm vừa thấy hòn đá này, tôi biết rằng nó rất đặc biệt. Nó gợi cho tôi cảm giác về một thời xưa xa vắng. Cái màu sắc chừng mực và nhẹ nhàng, với bề mặt dãi dầu mưa nắng, cũ kỹ, sâu lắng, tạo cho ta một cảm giác yên bình, khuây khỏa. Cái hình dáng dịu dàng, trầm mặc của nó làm ta mềm lòng và dễ chịu. Những nếp nhăn và đường rãnh chạy giữa hòn đá cho thấy điều gì đó đã xảy ra từ rất lâu rồi, nhưng giờ đây mọi chuyện đều yên tĩnh. Hòn đá nhỏ có thể cầm gọn trên bàn tay và nghe cảm được điều hòn đá muốn truyền đạt cho tôi – hay có lẽ điều tôi muốn nghe được từ hòn đá. Khi tôi nâng nó trên tay tôi cảm thấy hoà mình vào với vũ trụ, và thấy năng lượng chữa trị huyền diệu của nó che chở linh hồn tôi.

Hòn đá của Hideko – hình từ trang blog của Janet Roth

Mas ngay lập tức yêu thích hòn đá này khi nhìn thấy ở nhà Hideko. Ông nói:

Đây không phải là loại đá nổi bật trong một cuộc thi thủy thạch, nhưng dù thế nó đập vào mắt tôi ngay lập tức. Vẻ đẹp sâu thẳm, khiêm nhường và giản dị của nó cùng tạo ra cảm giác wabi-sabi. Nó gợi nhớ lại món quà tôi nhận được từ người thầy môn thủy thạch của chúng tôi, ông Hirotsu.

Khoảng 25 năm trước, không lâu trước khi mất, ông tặng tôi một viên thủy thạch ông rất quý. Lúc đó tôi không hiểu hết ông muốn truyền lại gì cho tôi với món quà này. Với ông Hirotsu thủy thạch là một con đường đi vào thế giới Thiền, nhưng tôi vẫn chưa thể dõi theo được bước chân ông. Một cách để thưởng thức thủy thạch là qua những viên đá có dạng phong cảnh tự nhiên và hình người hay thú vật theo môn thủy thạch truyền thống. Một cách khác là vượt qua truyền thống để đi vào lĩnh vực nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng như hầu hết vũ trụ được cấu thành từ “vật chất tối”, vô hình trong mắt ta, đằng sau những hình dạng nhận biết được bề ngoài là một thế giới của thủy thạch, rất cá nhân, đầy cảm tính và nặng phần hồn. Nhiều năm trôi qua tôi mới nhận ra được rằng người thầy Hirotsu đã dẫn tôi vào thế giới Thiền bằng món quà vô giá này.

Hideko nói là có nhiều cách để thưởng ngoạn thủy thạch. Bà kể lại có lần khi Nancy Eaton, chủ bút của tạp chí Golden Statements về bonsai (bồn tài – cây cảnh), viết một bài về Hirotsu và thủy thạch của ông. Nancy hỏi thầy Hirotsu có lời khuyên gì cho những người mê thủy thạch; ông nói điềm tĩnh với một nụ cười nhẹ: “chỉ cần tận hưởng nó”.