White Chrysanthemums — Ōtagaki Rengetsu

Otagaki Rengetsu, White Chrysanthemums
Otagaki Rengetsu, White Chrysanthemums


White Chrysanthemums (painting with waka)

Ōtagaki Rengetsu

White chrysanthemums
near my pillow
perfume the night
these dreams of many nights of
autumn will not return

shiragiku no
makura ni chikaku
kaoru yo wa
yume mo ikuyo no
aki kaeruran

Source: https://asia.si.edu/object/F1997.14/#object-content

Another English translation

White chrysanthemums
near my pillow
scent the night…
in my dream how many
autumns did I pass through?

Shiragiku no
makura ni chikaku
kaoru yo wa
yume mo ikuyo no
aki ka he nu ran

しらぎくの
まくらに近く
かをるよは
夢もいく世の
秋か経ぬらん

Source: http://rengetsu.org/poetry_db/index.php?pageNo=1 (Waka #151)

Ōtagaki Rengetsu 大田垣蓮月 (1791-1875): famous Buddhist Nun, poet, painter, ceramicist.

Waka (倭歌 or 和歌) literally “Japanese poem”, a type of Japanese classical poetry

Biography: http://rengetsu.org/life/biography/

Cúc Trắng (Tranh thủy mặc với Hoà ca)
Ōtagaki Rengetsu (Thái Điền Viên Liên Nguyệt)
Võ Tấn Phát dịch

(Bản dịch 1)
Những đóa cúc trắng
cạnh chiếc gối của tôi
tỏa hương đêm
những giấc mơ về những đêm
thu không bao giờ trở lại.

(Bản dịch 2)
Cúc trắng
cạnh gối tôi nằm
tỏa hương đêm…
trong giấc mơ bao nhiêu
mùa thu tôi đã qua.

Thái Điền Viên, Liên Nguyệt – Ōtagaki Rengetsu 大田垣蓮月 (1791-1875): ni sư, thi sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ gốm.

Hoà ca – Waka (倭歌 or 和歌): một hình thức cổ thi Nhật Bản

Too Loud a Solitude — Bohumil Hrabal

New York City Library Walk, Plaque 43
New York City Library Walk, Plaque 43


Too Loud a Solitude

Bohumil Hrabal
Translation into English by Michael Henry Heim

Chapter 1 (Excerpt)

For thirty-five years now I’ve been in wastepaper, and it’s my love story. For thirty-five years I’ve been compacting wastepaper and books, smearing myself with letters until I’ve come to look like my encyclopedias — and a good three tons of them I’ve compacted over the years. I am a jug filled with water both magic and plain; I have only to lean over and a stream of beautiful thoughts flows out of me. My education has been so unwitting I can’t quite tell which of my thoughts come from me and which from my books, but that’s how I’ve stayed attuned to myself and the world around me for the past thirty-five years. Because when I read, I don’t really read; I pop a beautiful sentence into my mouth and suck it like a fruit drop, or I sip it like a liqueur until the thought dissolves in me like alcohol, infusing brain and heart and coursing on through the veins to the root of each blood vessel. In an average month I compact two tons of books, but to muster the strength for my godly labors I’ve drunk so much beer over the past thirty-five years that it could fill an Olympic pool, an entire fish hatchery. Such wisdom as I have has come to me unwittingly, and I look on my brain as a mass of hydraulically compacted thoughts, a bale of ideas, and my head as a smooth, shiny Aladdin’s lamp. How much more beautiful it must have been in the days when the only place a thought could make its mark was the human brain and anybody wanting to squelch ideas had to compact human heads, but even that wouldn’t have helped, because real thoughts come from outside and travel with us like the noodle soup we take to work; in other words, inquisitors burn books in vain. If a book has anything to say, it burns with a quiet laugh, because any book worth its salt points up and out of itself. I’ve just bought one of those minuscule adder-subtractor-square-rooters, a tiny little contraption no bigger than a wallet, and after screwing up my courage I pried open the back with a screwdriver, and was I shocked and tickled to find nothing but an even tinier contraption — smaller than a postage stamp and thinner than ten pages of a book — that and air, air charged with mathematical variations. When my eye lands on a real book and looks past the printed word, what it sees is disembodied thoughts flying through air, gliding on air, living off air, returning to air, because in the end everything is air, just as the host is and is not the blood of Christ.

Source: https://www.amazon.com/Too-Loud-Solitude-Bohumil-Hrabal/dp/0156904586?ots=1&tag=thneyo0f-20&linkCode=w50

Bohumil Hrabal
Bohumil Hrabal

Quá Ồn Một Nỗi Cô Đơn
Bohumil Hrabal
Michael Henry Heim dịch sang Anh Ngữ
Võ Tấn Phát dịch Việt

Chương 1 (Trích)

Trong ba mươi lăm năm rồi tôi làm việc trong ngành giấy loại, và đó là chuyện tình đời tôi. Trong ba mươi lăm năm rồi tôi đã nén giấy loại và sách, bôi chữ lên bản thân cho tới khi tôi giống như những cuốn bách khoa toàn thư của tôi — hơn ba tấn giấy tôi đã nén hết chừng ấy năm. Tôi là một cái bình chứa nước, cả loại kỳ diệu lẫn loại thường; tôi chỉ cần nghiêng qua là cả một dòng ý nghĩ tuyệt vời chảy khỏi người tôi. Học vấn của tôi không có chủ đích gì nên tôi chẳng biết trong những ý nghĩ của tôi cái nào là từ chính tôi còn cái nào là từ sách vở, nhưng đó là cách tôi thích nghi với bản thân và với thế giới quanh tôi trong ba mươi lăm năm rồi. Bởi vì khi tôi đọc, tôi không chỉ đọc; tôi bỏ một câu văn đẹp vào miệng và mút nó như một viên kẹo trái cây, hoặc nhâm nhi nó như rượu mạnh, cho đến khi nó tan vào tôi như rượu cồn, thấm vào tim vào óc và chảy qua cơ thể tới cội nguồn của từng mạch máu. Trung bình một tháng tôi nén hai tấn sách, nhưng để có đủ sức làm công việc phi thường đó tôi phải uống quá nhiều bia trong ba mươi lăm năm, tới mức có thể đổ đầy một hồ bơi Olympic, hay một bể nuôi cá giống. Sự thông tuệ đó tôi đạt được không do chủ ý của tôi, và tôi coi óc tôi là một khối ý nghĩ được máy nén chặt xuống, một kiện ý tưởng, còn đầu tôi là một cái đèn bóng loáng của Aladdin. Đẹp đẽ xiết bao những ngày xưa đó khi một ý nghĩ chỉ tạo ra ảnh hưởng từ khối óc của con người, và kẻ nào muốn dập tắt ý nghĩ thì phải nghiến ép đầu người, nhưng dẫu thế cũng chẳng ăn thua, vì ý nghĩ thực sự đến từ bên ngoài và song hành với ta như món xúp mì sợi ta mang theo đi làm; nói cách khác, những pháp quan của toà án dị giáo đốt sách chỉ hoài công. Nếu một cuốn sách có điều gì đáng nói, thì nó vừa cháy vừa cười thầm, vì sách giá trị thì đáng giá hơn những gì nằm trong sách. Tôi vừa mua một cái máy tính cộng-trừ-bình phương-tính căn, một cái máy không lớn hơn cái ví đàn ông, và sau khi đã lấy hết can đảm tôi mở nắp sau của cái máy tính, để rồi vừa sốc vừa tức cười khi thấy nó không có gì ngoài cái máy nhỏ hơn — nhỏ hơn một con tem bưu điện và mỏng hơn mười trang sách — và không khí, không khí chứa đầy những biến số toán học. Khi mắt tôi chạm vào sách và nhìn vượt ra ngoài chữ in trên đó, con mắt thấy những ý nghĩ tách rời ra, bay trong không khí, lượn trên không khí, sống bằng không khí, và trở về với không khí, bởi vì cuối cùng thì mọi thứ đều là không khí, hệt như bánh thánh vừa là mà cũng vừa không phải là máu thịt của Chúa Giê-su.

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)


The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

General principles of composing the plant
Ch’ing Tsai T’ang
Translation from Chinese by Mai-mai Sze

The chrysanthemum is a flower of proud disposition; its color is beautiful, its fragrance lingers. To paint it, one must hold in his heart a conception of the flower whole and complete. Only in this way can that essence be transmitted in a painting. Some of its flowers should bend and some face upward; they should never be too numerous. Some of its leaves should be covered and some face upward, never in disorder. In brief, each branch, each leaf, each flower, each bud, must be rendered in its own full character.

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

Although the chrysanthemum is usually placed in the category of herbaceous plants, its proud blossoms brave the frost and it is classed with the pine (i.e., with trees and ligneous plants). Its stem is solitary and strong, yet as supple as the stems of spring flowers. Its leaves are rich and sleek, yet they have aspects of varied as those that quickly fade. Its blossoms and buds should be shown in different stages of development, each in relation to another. The essence (li) of the plant should be kept in mind, whether the stem is bent or straight: when the flowers are fully opened, the stem is weighted and therefore bends, while a stem bearing only buds is naturally lighter and stands straighter. A straight stem should not, however, be drawn as though it were rigid, nor should an inclined stem bend too far. These are general rules of painting the plant. Specific methods apply to the painting of each part, the flower, calyx, stem, leaf, and base.

Note:

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (芥子園畫傳): Manual of Chinese paintings first printed in early Qing Dynasty.

Picture source: https://i.cafa.edu.cn/waterprint/en/enanciebwnl/?x=300002011

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)


Giới Tử Viên Hoạ Truyền (Cúc phổ)

Các nguyên tắc chung khi vẽ cúc
Ch’ing Tsai T’ang
Mai-mai Sze dịch từ Trung Văn sang Anh Ngữ
Võ Tấn Phát dịch

Cúc là loài hoa kiêu hãnh; màu hoa đẹp, hương hoa đọng. Để vẽ cúc, ta phải giữ trong tâm trí trọn vẹn hình ý của cúc. Chỉ khi đó tất cả tinh anh mới truyền vào bức họa. Một vài đóa hoa trĩu xuống và một số khác đứng thẳng; nhưng không nên quá nhiều hoa. Một số lá bị che phủ và một số lá khác ngửa mặt, nhưng không bao giờ lộn xộn. Tóm lại, từng thân cây, từng lá, từng đoá, từng nụ, phải được vẽ để lột tả hết thần thái.

The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)
The Mustard Seed Garden Manual of Painting (Book of the Chrysanthemum)

Dù cúc được xếp vào loại thân thảo, những đoá hoa kiêu hãnh đối diện với giá rét và cúc được xếp chung với tùng (tức là các loài thân mộc). Thân hoa đứng đơn độc và mạnh mẽ, nhưng mềm mại như thân các loại hoa mùa xuân. Lá cúc đậm màu và trơn láng, nhưng có đầy đủ phẩm chất của các loại lá mau chóng tàn phai. Trí [của họa sĩ] phải nắm được nghĩa lý của cây, dù thân cây thẳng hay cong: khi các đóa hoa đã nở rộ, thân cây bị trĩu nặng vì thế phải cong, còn một thân cây chỉ toàn nụ dĩ nhiên sẽ nhẹ hơn và đứng thẳng. Tuy vậy một thân cây đứng thẳng không nên cứng ngắt, còn một thân cây trĩu xuống không nên cong quá mức. Đây là những nguyên tắc chung để vẽ cúc. Những phương pháp đặc biệt được áp dụng để vẽ từng phần: hoa, đài hoa, thân, lá, và gốc.


Chú thích:

Giới Tử Viên Hoạ Truyền (芥子園畫傳): Cẩm nang dạy vẽ, được in lần đầu tiên vào thời Khang Hy nhà Thanh.

Hình từ trang: https://i.cafa.edu.cn/waterprint/en/enanciebwnl/?x=300002011

Chrysanthemum by Piet Mondrian — Jennifer Blessing

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Chrysanthemum by Piet Mondrian

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Jennifer Blessing

For more than a decade after graduating from art school in 1897, Piet Mondrian created naturalistic drawings and paintings that reflect a succession of stylistic influences including academic realism, Dutch Impressionism, and Symbolism. During this period and intermittently until the mid-1920s Mondrian created more than a hundred pictures of flowers. Reflecting years later on his attraction to the subject, he wrote, “I enjoyed painting flowers, not bouquets, but a single flower at a time, in order that I might better express its plastic structure.” The heavy crooked line of Chrysanthemum suggests Mondrian’s debt to Post-Impressionism, specifically the work of Vincent van Gogh. In 1909 Mondrian became interested in theosophy, a type of philosophical mysticism that seeks to disclose the concealed essences of reality. “I too find flowers beautiful in their exterior beauty,” he wrote a few years later, “yet there is hidden within a deeper beauty.”

Link: https://www.guggenheim.org/artwork/2999

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Chrysanthemum by Piet Mondrian

Hoa Cúc – tranh của Piet Mondrian
Jennifer Blessing
Võ Tấn Phát dịch

Trong vòng một thập niên sau khi tốt nghiệp trường hội họa vào năm 1897, Piet Mondrian đã vẽ cả hình họa và tranh theo lối tự nhiên, cho thấy một loạt những ảnh hưởng của nhiều phong cách bao gồm trường phái hiện thực hàn lâm, trường phái ấn tượng Hà Lan, và trường phái tượng trưng. Trong thời kỳ này và thỉnh thoảng cho tới tận giữa thập niên 1920 Mondrian đã vẽ hơn 100 bức tranh hoa. Nhiều năm về sau khi hồi tưởng lại sức hấp dẫn của chủ đề này với ông, ông viết: “Tôi yêu thích vẽ hoa, không phải nguyên cả bó, mà từng đóa một, để tôi có thể diễn tả hết cấu trúc mềm dẻo của nó”. Đường vẽ cong và đậm nét của đóa hoa cúc cho thấy ảnh hưởng của trường phái hậu ấn tượng lên Mondrian, đặc biệt là tranh của Van Gogh. Năm 1909 Mondrian quan tâm tới thuyết thần trí, một chủ nghĩa thần bí triết học tìm cách hiển lộ những bản chất bị che phủ của thực tại. Ông đã viết một vài năm sau đó: “Tôi thấy bề ngoài hoa cũng đẹp, nhưng ẩn sâu bên trong là vẻ đẹp sâu sắc hơn nhiều”.

Chrysanthemum by Piet Mondrian
Chrysanthemum by Piet Mondrian


Picture sources:
https://www.guggenheim.org/artwork/2999
https://www.piet-mondrian.org/chrysanthemum.jsp
https://rkd.nl/nl/explore/images/276180

Chrysanthemums by a Rock — Gao Fenghan

Gao Fenghan, Chrysanthemums and Rock
Gao Fenghan, Chrysanthemums and Rock


Chrysanthemums by a Rock (菊石圖)

Gao Fenghan (高鳳翰 1683–1748)

At the age of fifty-four Gao Fenghan lost the use of his right hand. Painfully retraining himself to write and paint with his left hand, he came to prize the naive awkwardness of his left-handed brushwork. He lived in a Buddhist monastery in Yangzhou for four years, became close friends with several of the so-called Eight Eccentrics of Yangzhou, then retired to his hometown in Shandong Province in 1741. Chrysanthemums by a Rock is a dashing performance of Gao’s mature years. Although done in his highly expressive left-handed style, his vigorous wet brushwork is a direct outgrowth of the lush exuberant flower paintings of Shitao (石濤 – 1642–1707), who lived in Yangzhou for the last twelve years of his life. Gao’s calligraphy is dynamically integrated with his painting. Filling in the leftover space, the robust rhythms of the writing seem a natural companion to the flowers and rock.

Link: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/49238

Cúc và Đá (菊石圖 – Cúc Thạch Đồ)
Tranh của Cao Phượng Hàn (高鳳翰 1683–1748)
(Võ Tấn Phát dịch)

Đến năm 54 tuổi tay phải của Cao Phượng Hàn bị liệt. Dù phải khổ sở tập viết và vẽ trở lại bằng tay trái, ông lại ưa thích vẻ vụng về chất phác của nét bút bằng tay trái. Ông đã sống trong một Phật viện ở Dương Châu trong bốn năm, trở thành bạn thân của nhiều người trong số Tám Quái Nhân của Dương Châu (揚州八怪 – Dương Châu Bát Quái), rồi về sống tại quê nhà ở Tỉnh Sơn Đông vào năm 1741. Bức tranh Cúc và Đá mang đầy vẻ táo bạo vào lúc nghệ thuật của ông đã chín muồi. Mặc dù được vẽ với phong cách biểu đạt cao của tay trái, nét bút thủy mặc sống động của ông là sự tiếp nối của những bức tranh hoa sum sê của Thạch Đào (石濤 1642–1707), một họa sĩ lớn đã sống ở Dương Châu trong mười hai năm cuối đời. Cao Phượng Hàn kết hợp sinh động thư pháp và tranh. Lấp vào chỗ trống, nhịp điệu của nét bút hài hoà tự nhiên với hoa và đá.

Northern California Suiseki Stones — Sam Edge

Northern California Suiseki Stones
Sam Edge


Earlier that summer our club had taken a trip to the Trinity and the Klamath rivers.  On our drive up to our camp ground on the Klamath we stopped for lunch on the bank of the Trinity River.  It was a beautiful spot with picnic tables, shade trees, and the cool breeze of the roaring river.  I will post photos of that trip at some point.

After lunch we decided to try our hand at locating a few nice stones along the riverbank.  As I was wandering around turning over stones, I came to a clump of bushes that went right into the water.  I decided to go rummaging around in the bushes and low and behold just lying on the ground was this stone.  Janet has reminded me on several trips that often a stone is just lying there as if waiting for you to finally show up to pick it up.  This was clearly the case with this beautiful stone.  Not a single piece of this stone was underground – it was just as if it was patiently waiting for me to come along to pick it up and admire it.

Trinity River Stone, photo by Sam Edge
Trinity River Stone, photo by Sam Edge

Many are going to look at this stone and say “well it has been polished!”  Frankly, if I hadn’t been the one to pick it up in this exact state that is exactly what I would have said as well.  Is this a classic suiseki shape – of course not.  Do we love this stone – yes we do!

I ran this stone over to Mas to see what he thought.  He agreed that had he not been there he would have thought this old patina was created through polishing.  Mas thought this was perhaps the best stone our group found that day – at least until that point…  It is a beautiful stone from both sides.  We elected to have this side be the front as it just “felt better.”  Several people who have seen this stone have said that it should be cut to make a nice mountain stone.  To cut this stone would be to take away the very heart and beauty of it.  To think of the years that this stone was in the water being polished by the running water and sand that cascaded across all sides of this stone.  How long did it take to create this smooth and beautiful patina.  Certainly it was in the river for years and years.  What caused it to reach the shoreline and decide to stay rather than being returned the following winter – who knows.  Perhaps had we not been there that day to pick it up it would have returned last winter when the river once again rose and raged.  But on that Saturday we were there at just the right time to see its beauty and to make it a part of our collection.

To be direct this is not a stone we will sell or give away. At some point it will be returned to the trinity as it reminds us that most things in life are never owned but simply on loan.  I hope you think the diaza Koji Suzuki made for this stone allows us to appreciate it in how it is displayed.

Later that afternoon we headed on up to the Klamath river where we stayed less than 100 yards away from the water.  On Sunday, while walking the banks I had decided to run back and pick up a stone that I had sat aside to show Mas to see what he thought of it.  While walking back and before crossing over some 6 foot bushes to where our group was sitting on the river bank while watching small, fresh steelhead running through the water I looked down and saw this stone.

Tranquility, photo by Sam Edge
Tranquility, photo by Sam Edge

We will need to post some more photos of this stone for you as this bronze color patina is natural and unpolished by human hands.  At first when I saw it I wasn’t quite sure what it was other than a deep copper colored bronze-like stone.  When I picked it up and held it the thing that struck me about this stone was it’s softness – and just by holding it it brought a sense of tranquility.  Often I see or hold stones and its texture and color brings other emotions of almost all of which are not tranquility.  I’m not saying that looking at a nice distant mountain stone doesn’t bring about a sense of peace but this stone exuded a state of tranquility.  Much like when you are quietly walking through a forest where even the sound of your feet somehow never escapes the ground to your ears.  That kind of quietness – that sense of peace.

We debated a long time how to display this stone.  Our first thought was just a simple pillow – I still think this is best – but in the end we wanted to have a diaza made for this stone so we can display it as some future point in a show.  Is this stone perfectly smooth – we think not, but it does give a sense of smoothness in a turbulent world.  My personal work is often extremely stressful, most start-ups are, and the one I’m helping is no exception.  Trying to raise capital, building a product on a limited budget, and trying to meet often conflicting priorities will raise one’s blood pressure. What I do find though when I think my day is spiraling out of control is that I walk away from my computer(s) and I take a few minutes to gaze upon this stone at least for a short moment a sense of tranquility departs from it and envelops my state of mind.
Let me say that many who read this post might wonder if the stress hasn’t perhaps sent me over the ‘edge’ – no pun intended – but I would challenge you that if your stones or suiseki isn’t evoking this kind of visceral reaction are you taking enough time to study your stone to see what it has to offer?

I must admit that before we took up suiseki and tanseki trips, we often saw stones and quickly passed by them. Sometimes with a brief appreciation but often that was only fleeting.  Perhaps age has something to do with the desire to slow down and to take the time to be a bit more observant of one’s surroundings.  I’m not exactly sure but we do know that these stones in our lives recently have caused us to pause and ponder – isn’t that a good thing?

Source: https://samedge.wordpress.com/2010/04/10/northern-california-suiseki-stones/

Thủy Thạch của Bắc California
Sam Edge
Võ Tấn Phát dịch


Trước đó vào mùa hè hội đá của chúng tôi đã tổ chức các chuyến đi đến các con sông Trinity và Klamath. Trong lúc lái xe đến chỗ cắm trại trên sông Klamath chúng tôi dừng lại ăn trưa trên bờ sông Trinity. Một chỗ phong cảnh đẹp có bàn ghế dưới bóng râm của những tán cây, và gió nhẹ thổi qua con sông đang gầm vang rền. Tôi sẽ đăng hình chuyến đi đó khi có dịp.

Sau bữa trưa chúng tôi đi dọc theo bờ sông tìm kiếm đá. Trong khi đang lang thang lật các viên đá lên ngắm nghía, tôi đụng một đám cây rậm rạp kéo dài xuống tận mé nước. Tôi quyết định lục lọi trong những bụi cây này và bất ngờ thấy hòn đá này nằm trên mặt đất. Janet thường nói trong nhiều chuyến tìm đá là có những hòn đá cứ nằm đó dường như chờ người tới lượm. Hòn đá xinh đẹp này là một trường hợp như vậy. Không có phần nào của hòn đá nằm chìm dưới đất cả – cứ như hòn đá kiên nhẫn nằm chờ đợi tôi đến lượm lên và chiêm ngưỡng nó vậy.

Trinity River Stone, photo by Sam Edge
Trinity River Stone, photo by Sam Edge

Nhiều người nhìn thấy hòn đá này sẽ nói “hòn đá này đã được mài bóng!” Và thật sự là nếu chính tôi không thấy hòn đá này và lượm nó lên như vậy thì chắc chắn tôi cũng sẽ nghĩ như thế. Nó có phải là dáng thủy thạch cổ điển không – dĩ nhiên không. Tôi có yêu thích hòn đá này không – dĩ nhiên là có!

Tôi đem hòn đá này đến hỏi ý kiến Mas. Ông đồng ý là nếu mà không có mặt ở đó thì ông cũng sẽ nghĩ rằng bề mặt già cỗi của hòn đá là do mài mòn. Mas nghĩ rằng đây là viên đá đẹp nhất mà cả nhóm đã lượm được ngày hôm đó – ít ra là cho đến lúc đó… Hòn đá đẹp cả hai mặt. Chúng tôi chọn chưng mặt này ra trước vì “cảm thấy đẹp hơn”. Một vài người thấy hòn đá này cứ đòi cắt hòn đá để nó thành hình núi đẹp. Nhưng cắt hòn đá này là cắt đi linh hồn và vẻ đẹp của hòn đá. Hãy nghĩ về những năm tháng hòn đá này nằm dưới nước được mài mòn do nước và cát cứ chảy mãi miết qua bề mặt đá. Phải mất bao lâu mới tạo được bề mặt láng và dáng già cỗi miên man như thế. Hiển nhiên hòn đá đã nằm dưới nước năm này qua năm khác. Duyên cớ gì mà hòn đá đã tới bờ sông và quyết định nằm lại đó thay vì trở lại dòng sông khi nước dâng vào mùa đông sau đó – ai mà biết được. Có lẽ nếu chúng tôi không có mặt hôm đó để lượm hòn đá lên thì nó đã quay lại lòng sông vào mùa đông năm đó khi nước theo chu kỳ lại đầy tràn cuồn cuộn chảy. Nhưng vào ngày thứ bảy đó chúng tôi đã ở đó đúng lúc để nhận ra vẻ đẹp của nó và thêm vào bộ sưu tập của mình.

Xin nói thẳng là đây không phải là viên đá mà chúng tôi sẽ bán hay tặng. Đến lúc nào đó nó sẽ được trả về dòng sông Trinity để nhắc nhở chúng ta rằng hầu hết mọi thứ trên đời không phải là của cải sở hữu mà chỉ là đồ thuê mướn. Tôi hy vọng rằng cái đế gỗ do Koji Suzuki chạm khắc sẽ cho thấy được hết vẻ đẹp của hòn đá lúc trưng bày.

Chiều hôm đó chúng tôi đi tiếp tới sông Klamath và ngủ chỉ cách bờ sông 100 m. Sáng Chủ Nhật trong khi đang dạo trên bờ sông tôi quyết định quay lại lấy một hòn đá tôi để riêng ra cho Mas coi và hỏi ý kiến ông. Trong khi quay lại và trước khi qua một lùm cây rộng khoảng 2 m để đến chỗ cả nhóm đang ngồi coi cá hồi nhỏ đang vượt sông, tôi nhìn xuống và thấy hòn đá này.

Tranquility, photo by Sam Edge
Tranquility, photo by Sam Edge

Chúng tôi sẽ đăng thêm nhiều tấm hình của hòn đá này độc giả thấy sắc cổ màu đồng của hòn đá là tự nhiên và không do tay người mài. Lúc đầu khi tôi thấy nó tôi không chắc nó là gì khác hơn là một hòn đá màu đồng sậm. Khi lượm nó lên và cầm trong tay thì điều làm tôi ngạc nhiên là sự mềm mại của hòn đá – và chỉ cần cầm trong tay là nó đem lại cảm giác bình an. Thường khi tôi nhìn thấy hay cầm một hòn đá, bề mặt và màu sắc của nó gợi những cảm giác hầu hết không phải là bình an. Tôi không nói là khi ta nhìn một hòn đá tuyệt vời hình núi xa thì ta không có cảm giác thanh bình, nhưng hòn đá này như ứa ra sự bình an. Tựa như khi ta yên lặng dạo bước qua một khu rừng mà thậm chí tiếng bước chân không thoát khỏi mặt đất để tới tai ta. Chính sự yên tĩnh đó – chính cảm giác yên bình đó.

Chúng tôi đã tranh luận rất lâu làm sao để trưng bày hòn đá này. Lúc đầu chúng tôi nghĩ chỉ cần đặt trên một cái gối đơn giản – tôi vẫn nghĩ đó là cách tốt nhất – nhưng cuối cùng chúng tôi muốn có một cái đế gỗ để trưng bày hòn đá như một tâm điểm trong triển lãm trong tương lai. Hòn đá có hoàn toàn phẳng lặng không – chúng tôi không nghĩ vậy, nhưng nó đem lại một cảm giác phẳng lặng trong một thế giới hỗn loạn. Công việc của tôi thường vô cùng căng thẳng, hầu hết các công ty khởi nghiệp đều như vậy, và công ty mà tôi đang tư vấn cũng không phải ngoại lệ. Tìm vốn đầu tư, tạo ra sản phẩm với ngân sách giới hạn, và cố gắng làm theo những tiêu chuẩn đôi khi mâu thuẫn nhau, tất cả đều làm điên đầu. Nhưng ngày nào mà tôi thấy mệt mỏi bất lực, tôi thấy rằng nếu tôi đứng dậy rời bàn làm việc và ngắm nhìn hòn đá này chỉ vài phút thôi, thì một cảm giác bình an sẽ rời hòn đá đến ôm ấp hồn tôi dù chỉ trong chốc lát. Nhiều người đọc tới đây sẽ nghĩ rằng căng thẳng đẩy tôi xuống bờ vực [tác giả chơi chữ: edge là họ của tác giả mà cũng có nghĩa là bờ vực – ND] – nhưng nếu hòn thủy thạch của bạn không gợi nên phản ứng tự đáy lòng như thế này, tôi muốn hỏi rằng bạn đã dành đủ thời gian nghiên cứu hòn đá để thấy nó đem lại điều gì cho bạn chưa?

Tôi phải thừa nhận rằng trước khi nhập môn thủy thạch và đi tìm đá, chúng tôi cũng thường thấy đá và chỉ lướt qua thôi. Đôi khi có chút yêu thích nhưng thường thoáng qua rồi thôi. Có lẽ tuổi tác làm chúng tôi mong muốn chậm rãi lại và để thời gian quan sát kỹ hơn thế giới xung quanh. Tôi không biết chắc nhưng những hòn đá đã đi vào đời chúng tôi gần đây đã làm chúng tôi dừng lại và suy gẫm – như thế không tốt sao?

A Suiseki Secret

3C7AE7D5-A1B5-400D-BA46-9AB0FD55D2AF
Lisa and Phat found this boat stone together on an Eel River beach. It was a hot summer day and the river was beautiful…

A Suiseki Secret
Phat Vo

There is an open secret that terrifies most men in all suiseki clubs: women find better suiseki than men do. If men had known better, it is how it is. It is no accident that diamond is a girl’s best friend. Women appreciate precious stones more than men do. In fact, more likely women were first to use precious stones as decorative objects. Men were just brutes, and for them, all rocks were either weapons or tools, and only value precious stones because women love them. And despite all the algorithms and calculations and tools to detect the precious stone mines, men could barely know a piece of jade from a piece of dirt, and so they could hardly find enough precious stones for world need. If men had just let women take charge of the precious stone businesses, women would have mined the whole universe of these precious rocks. When it comes to suiseki it is natural that women are attracted to better stones.

But we men should not be ashamed of it. After all it is just one in a zillion things women can do better than men. Men when alone are simple minded, concerned mostly with food and drinks. Only after meeting women, men become poets and artists and musicians; and only after marriage men become philosophers of some sort. But like most everything men put their hands and minds to, they tend to overdo it. Men then need women to bring them down to earth.

One day late at night while Socrates was in a deep conversation with his friends, his wife Xanthippe gave him either a subtle call to mate or a not-so-subtle call to take out the trash. But since men don’t like to run away from a fight, physical or meta-physical, Socrates played the absent minded card and ignored her. Her call got louder and eventually Xanthippe dumped a bucket of water over his head. Socrates just smiled and said, “This is quite natural. After thunder comes rain.”

Father of Western Philosophy or not, Socrates was no match for his wife Xanthippe, Mother of Universal Reality.

But let’s stop beating a dead horse (I mean dead men of the past) and let’s go back to the trouble we men of rocks are facing now. After collecting long enough, most men realize they cannot compete with their women, no matter how hard they try.

So some men just give up and follow their woman’s lead. At an exhibition when they are asked about their rocks, these men might say something like, “Oh, I am just here to support my wife.” We just pretend to recognize their apparent selflessness with comments like, “That’s very nice of you.” Others just continue to collect, only to sit in silence at suiseki exhibitions. Then guests just ignore their stones and go straight to their women’s suiseki and start praising them.

I have my own way to cope with that and I will reveal it here if you promise not to tell my wife. After countless times of reading and contemplating over Sun Tzu’s “The Art of War” and many years of practicing martial arts, I came up with my strategy, somewhere between “snatch victory from the jaws of defeat” and “if you can’t beat them, join them.” I learned to make daiza before my wife could learn and master the skill, and spent good money on suiban and doban for her stones. Then I submit our stones under our names “Lisa and Phat” for suiseki shows. At the show if some nosy guests still ask, “So, who found it?” I just calmly and casually say, “We found it together on the banks of the Kern River” for example, and then I quickly change the subject by describing the beauty of the stone and/or telling them about the weather or the scenery when we found it.


Aiseki Kai Newsletter, July 2022 issue

3C7AE7D5-A1B5-400D-BA46-9AB0FD55D2AF
Trang và Phát cùng tìm thấy hòn đá hình thuyền này bên bờ sông Eel. Hôm đó nhằm mùa hè, trời thì nóng, và phong cảnh trên sông như tranh…


Một Bí Mật trong Thuỷ Thạch

Võ Tấn Phát

Có một bí mật ai cũng biết, mà hầu hết các đấng nam nhi trong các hội đá đều kinh hãi: phụ nữ tìm được đá đẹp hơn nam giới. Nếu đàn ông hiểu biết hơn chút thôi, thì chuyện đó là hiển nhiên. Không phải ngẫu nhiên mà kim cương là người bạn tốt nhất của phụ nữ. Phụ nữ xem trọng đá quý hơn nam giới. Thực ra có lẽ phụ nữ mới biết bắt đầu dùng đá quý để trang điểm. Đàn ông thì như thú hoang, đá thì hoặc là dụng cụ hoặc là vũ khí thôi, và chỉ biết coi trọng đá quý vì phụ nữ yêu thích chúng. Và mặc cho những phương pháp tính toán, đo đạc, máy móc đủ thứ, để dò tìm các mỏ đá quý, đám đàn ông cũng chẳng phân biệt nổi kim cương với bùn đất, và vì vậy bọn họ đâu tìm đủ đá quý cho thiên hạ dùng. Nếu mà đàn ông chịu nhường chuyện tìm đá quý cho phụ nữ thì chắc phụ nữ đã đào hết đá quý trong vũ trụ này rồi. Lẽ tự nhiên là trong môn thủy thạch, đàn bà cũng thu hút đá đẹp hơn hẳn đám đàn ông.

Nhưng đàn ông chúng ta cũng không nên coi đó là chuyện xấu hổ. Nói cho cùng đó chỉ là một trong hàng tỷ tỷ thứ trên cõi đời đàn bà giỏi giang hơn đàn ông. Đàn ông ở một mình thì đầu óc đơn giản, chỉ biết lo chuyện ăn nhậu. Chỉ khi gặp đàn bà rồi, đàn ông mới thành nào là thi sĩ nào là nghệ sĩ nào là nhạc sĩ; chỉ khi cưới vợ rồi đàn ông mới thành triết gia. Nhưng như bất cứ thứ gì trên đời mà đàn ông chú tâm bắt tay vào, đàn ông thường đi quá đà. Lúc đó thì đàn ông lại cần đàn bà kéo họ trở về mặt đất.

Một đêm khuya nọ trong khi Socrates thảo luận những vấn đề sâu sắc với bạn bè, bà vợ Xanthippe cất tiếng gọi, hoặc là lời gọi tình dịu dàng kín đáo, hoặc là tiếng gọi đi đổ rác chẳng kín đáo cũng chẳng dịu dàng gì. Nhưng vì đàn ông không thích bỏ cuộc trong lúc giao đấu, dù là đấu sức hay đấu trí, Socrates giả đò đãng trí không nghe. Tiếng gọi càng lúc càng tăng cường độ, rồi cuối cùng bà vợ Xanthippe đổ ụp một thùng nước đầy lên đầu ông chồng. Socrates chỉ biết cười và nói: “Chuyện này bình thường mà. Hết giông bão thì mưa thôi.”

Có là cha đẻ của môn Triết học Tây phương hay không, Socrates không phải là đối thủ của bà vợ Xanthippe, mẹ đẻ của môn Thực tại học của toàn thế giới.

Nhưng hãy ngừng châm chọc những người đàn ông chết lâu lắc trong quá khứ mà trở về với vấn đề nan giải đang làm điên đầu đám đàn ông mê đá của hôm nay. Sau khi đã lặn lội tìm đá đủ lâu, hầu hết đàn ông đều hiểu rằng dù có cố bao nhiêu đi nữa họ không thể nào bằng được với các phụ nữ dấu yêu của đời họ.

Vì thế một số ông đầu hàng số phận và đi theo sự dẫn dắt của người đàn bà của đời họ. Khi triển lãm đá và có ai hỏi về đá của họ, thì các vị đàn ông này sẽ trả lời lấp lửng kiểu như: “Tôi chỉ đến để phụ vợ tôi thôi.” Và chúng ta giả vờ khen ngợi cái dáng vẻ vị tha của họ bằng những lời có cánh đại loại như: “Ồ ông thật là người chồng tốt.” Những ông khác vẫn tiếp tục cuộc chơi, để rồi trong các cuộc triển lãm đá đành ngồi im lặng một đống. Rồi nhìn hết người này đến người khác bỏ qua những viên đá của họ, đi thẳng tới và khen hết lời những viên đá của các bà chủ đời họ.

Riêng tôi lại có cách khác để đương đầu với vấn đề này, và sẽ hé lộ ra đây nếu mọi người hứa là sẽ không nói lại cho vợ yêu quý của đời tôi biết. Sau khi đã đọc đi đọc lại Tôn Tử Binh Pháp không biết bao nhiêu lần, và sau rất nhiều năm tập luyện võ thuật, tôi đã nghĩ ra một âm mưu, nằm đâu đó giữa “chuyển bại thành thắng” và “đánh không lại thì đầu [hàng]”. Tôi học làm đế gỗ cho đá trước khi vợ tôi học làm đế và làm đế đẹp, và tôi mua những cái khay xịn bằng sứ hay bằng đồng cho đá của nàng. Đến kỳ chưng đá tôi để tên chung hai đứa “Trang và Phát” là chủ nhân của các hòn đá. Trong cuộc triển lãm vẫn có nhiều kẻ tò mò hỏi vặn vẹo: “Vậy ai tìm được hòn đá này?”, thì tôi sẽ làm mặt lạnh trả lời tự nhiên như ruồi: “Hai đứa tôi cùng tìm được trên sông Kern”, rồi nhanh chóng chuyển đề tài sang tán chuyện vẻ đẹp của hòn đá hay thời tiết hôm lượm được hòn đá đó.

The Book of Tea — Okakura Kakuzo

Okakura Kakuzō (1862-1913)
Okakura Kakuzō (1862-1913)


The Book of Tea

Okakura Kakuzo

The Cup of Humanity

Tea began as a medicine and grew into a beverage. In China, in the eighth century, it entered the realm of poetry as one of the polite amusements. The fifteenth century saw Japan ennoble it into a religion of aestheticism–Teaism. Teaism is a cult founded on the adoration of the beautiful among the sordid facts of everyday existence. It inculcates purity and harmony, the mystery of mutual charity, the romanticism of the social order. It is essentially a worship of the Imperfect, as it is a tender attempt to accomplish something possible in this impossible thing we know as life.

The Philosophy of Tea is not mere aestheticism in the ordinary acceptance of the term, for it expresses conjointly with ethics and religion our whole point of view about man and nature. It is hygiene, for it enforces cleanliness; it is economics, for it shows comfort in simplicity rather than in the complex and costly; it is moral geometry, inasmuch as it defines our sense of proportion to the universe. It represents the true spirit of Eastern democracy by making all its votaries aristocrats in taste.

The long isolation of Japan from the rest of the world, so conducive to introspection, has been highly favourable to the development of Teaism. Our home and habits, costume and cuisine, porcelain, lacquer, painting–our very literature–all have been subject to its influence. No student of Japanese culture could ever ignore its presence. It has permeated the elegance of noble boudoirs, and entered the abode of the humble. Our peasants have learned to arrange flowers, our meanest labourer to offer his salutation to the rocks and waters. In our common parlance we speak of the man “with no tea” in him, when he is insusceptible to the serio-comic interests of the personal drama. Again we stigmatise the untamed aesthete who, regardless of the mundane tragedy, runs riot in the springtide of emancipated emotions, as one “with too much tea” in him.

The outsider may indeed wonder at this seeming much ado about nothing. What a tempest in a tea-cup! he will say. But when we consider how small after all the cup of human enjoyment is, how soon overflowed with tears, how easily drained to the dregs in our quenchless thirst for infinity, we shall not blame ourselves for making so much of the tea-cup. Mankind has done worse. In the worship of Bacchus, we have sacrificed too freely; and we have even transfigured the gory image of Mars. Why not consecrate ourselves to the queen of the Camelias, and revel in the warm stream of sympathy that flows from her altar? In the liquid amber within the ivory-porcelain, the initiated may touch the sweet reticence of Confucius, the piquancy of Laotse, and the ethereal aroma of Sakyamuni himself.
Those who cannot feel the littleness of great things in themselves are apt to overlook the greatness of little things in others. The average Westerner, in his sleek complacency, will see in the tea ceremony but another instance of the thousand and one oddities which constitute the quaintness and childishness of the East to him. He was wont to regard Japan as barbarous while she indulged in the gentle arts of peace: he calls her civilised since she began to commit wholesale slaughter on Manchurian battlefields. Much comment has been given lately to the Code of the Samurai, –the Art of Death which makes our soldiers exult in self- sacrifice; but scarcely any attention has been drawn to Teaism, which represents so much of our Art of Life. Fain would we remain barbarians, if our claim to civilisation were to be based on the gruesome glory of war. Fain would we await the time when due respect shall be paid to our art and ideals.

When will the West understand, or try to understand, the East? We Asiatics are often appalled by the curious web of facts and fancies which has been woven concerning us. We are pictured as living on the perfume of the lotus, if not on mice and cockroaches. It is either impotent fanaticism or else abject voluptuousness. Indian spirituality has been derided as ignorance, Chinese sobriety as stupidity, Japanese patriotism as the result of fatalism. It has been said that we are less sensible to pain and wounds on account of the callousness of our nervous organisation!

Why not amuse yourselves at our expense? Asia returns the compliment. There would be further food for merriment if you were to know all that we have imagined and written about you. All the glamour of the perspective is there, all the unconscious homage of wonder, all the silent resentment of the new and undefined. You have been loaded with virtues too refined to be envied, and accused of crimes too picturesque to be condemned. Our writers in the past–the wise men who knew–informed us that you had bushy tails somewhere hidden in your garments, and often dined off a fricassee of newborn babes! Nay, we had something worse against you: we used to think you the most impracticable people on the earth, for you were said to preach what you never practiced.

Such misconceptions are fast vanishing amongst us. Commerce has forced the European tongues on many an Eastern port. Asiatic youths are flocking to Western colleges for the equipment of modern education. Our insight does not penetrate your culture deeply, but at least we are willing to learn. Some of my compatriots have adopted too much of your customs and too much of your etiquette, in the delusion that the acquisition of stiff collars and tall silk hats comprised the attainment of your civilisation. Pathetic and deplorable as such affectations are, they evince our willingness to approach the West on our knees. Unfortunately the Western attitude is unfavourable to the understanding of the East. The Christian missionary goes to impart, but not to receive. Your information is based on the meagre translations of our immense literature, if not on the unreliable anecdotes of passing travellers. It is rarely that the chivalrous pen of a Lafcadio Hearn or that of the author of “The Web of Indian Life” enlivens the Oriental darkness with the torch of our own sentiments.

Perhaps I betray my own ignorance of the Tea Cult by being so outspoken. Its very spirit of politeness exacts that you say what you are expected to say, and no more. But I am not to be a polite Teaist. So much harm has been done already by the mutual misunderstanding of the New World and the Old, that one need not apologise for contributing his tithe to the furtherance of a better understanding. The beginning of the twentieth century would have been spared the spectacle of sanguinary warfare if Russia had condescended to know Japan better. What dire consequences to humanity lie in the contemptuous ignoring of Eastern problems! European imperialism, which does not disdain to raise the absurd cry of the Yellow Peril, fails to realise that Asia may also awaken to the cruel sense of the White Disaster. You may laugh at us for having “too much tea,” but may we not suspect that you of the West have “no tea” in your constitution?

Let us stop the continents from hurling epigrams at each other, and be sadder if not wiser by the mutual gain of half a hemisphere. We have developed along different lines, but there is no reason why one should not supplement the other. You have gained expansion at the cost of restlessness; we have created a harmony which is weak against aggression. Will you believe it?–the East is better off in some respects than the West!

Strangely enough humanity has so far met in the tea-cup. It is the only Asiatic ceremonial which commands universal esteem. The white man has scoffed at our religion and our morals, but has accepted the brown beverage without hesitation. The afternoon tea is now an important function in Western society. In the delicate clatter of trays and saucers, in the soft rustle of feminine hospitality, in the common catechism about cream and sugar, we know that the Worship of Tea is established beyond question. The philosophic resignation of the guest to the fate awaiting him in the dubious decoction proclaims that in this single instance the Oriental spirit reigns supreme.

The earliest record of tea in European writing is said to be found in the statement of an Arabian traveller, that after the year 879 the main sources of revenue in Canton were the duties on salt and tea. Marco Polo records the deposition of a Chinese minister of finance in 1285 for his arbitrary augmentation of the tea-taxes. It was at the period of the great discoveries that the European people began to know more about the extreme Orient. At the end of the sixteenth century the Hollanders brought the news that a pleasant drink was made in the East from the leaves of a bush. The travellers Giovanni Batista Ramusio (1559), L. Almeida (1576), Maffeno (1588), Tareira (1610), also mentioned tea. In the last-named year ships of the Dutch East India Company brought the first tea into Europe. It was known in France in 1636, and reached Russia in 1638. England welcomed it in 1650 and spoke of it as “That excellent and by all physicians approved China drink, called by the Chineans Tcha, and by other nations Tay, alias Tee.”

Like all good things of the world, the propaganda of Tea met with opposition. Heretics like Henry Saville (1678) denounced drinking it as a filthy custom. Jonas Hanway (Essay on Tea, 1756) said that men seemed to lose their stature and comeliness, women their beauty through the use of tea. Its cost at the start (about fifteen or sixteen shillings a pound) forbade popular consumption, and made it “regalia for high treatments and entertainments, presents being made thereof to princes and grandees.” Yet in spite of such drawbacks tea-drinking spread with marvellous rapidity. The coffee-houses of London in the early half of the eighteenth century became, in fact, tea-houses, the resort of wits like Addison and Steele, who beguiled themselves over their “dish of tea.” The beverage soon became a necessity of life–a taxable matter. We are reminded in this connection what an important part it plays in modern history. Colonial America resigned herself to oppression until human endurance gave way before the heavy duties laid on Tea. American independence dates from the throwing of tea-chests into Boston harbour.

There is a subtle charm in the taste of tea which makes it irresistible and capable of idealisation. Western humourists were not slow to mingle the fragrance of their thought with its aroma. It has not the arrogance of wine, the self- consciousness of coffee, nor the simpering innocence of cocoa. Already in 1711, says the Spectator: “I would therefore in a particular manner recommend these my speculations to all well-regulated families that set apart an hour every morning for tea, bread and butter; and would earnestly advise them for their good to order this paper to be punctually served up and to be looked upon as a part of the tea-equipage.” Samuel Johnson draws his own portrait as “a hardened and shameless tea drinker, who for twenty years diluted his meals with only the infusion of the fascinating plant; who with tea amused the evening, with tea solaced the midnight, and with tea welcomed the morning.”

Charles Lamb, a professed devotee, sounded the true note of Teaism when he wrote that the greatest pleasure he knew was to do a good action by stealth, and to have it found out by accident. For Teaism is the art of concealing beauty that you may discover it, of suggesting what you dare not reveal. It is the noble secret of laughing at yourself, calmly yet thoroughly, and is thus humour itself,–the smile of philosophy. All genuine humourists may in this sense be called tea-philosophers,–Thackeray, for instance, and of course, Shakespeare. The poets of the Decadence (when was not the world in decadence?), in their protests against materialism, have, to a certain extent, also opened the way to Teaism. Perhaps nowadays it is our demure contemplation of the Imperfect that the West and the East can meet in mutual consolation.

The Taoists relate that at the great beginning of the No-Beginning, Spirit and Matter met in mortal combat. At last the Yellow Emperor, the Sun of Heaven, triumphed over Shuhyung, the demon of darkness and earth. The Titan, in his death agony, struck his head against the solar vault and shivered the blue dome of jade into fragments. The stars lost their nests, the moon wandered aimlessly among the wild chasms of the night. In despair the Yellow Emperor sought far and wide for the repairer of the Heavens. He had not to search in vain. Out of the Eastern sea rose a queen, the divine Niuka, horn-crowned and dragon-tailed, resplendent in her armor of fire. She welded the five-coloured rainbow in her magic cauldron and rebuilt the Chinese sky. But it is told that Niuka forgot to fill two tiny crevices in the blue firmament. Thus began the dualism of love–two souls rolling through space and never at rest until they join together to complete the universe. Everyone has to build anew his sky of hope and peace.

The heaven of modern humanity is indeed shattered in the Cyclopean struggle for wealth and power. The world is groping in the shadow of egotism and vulgarity. Knowledge is bought through a bad conscience, benevolence practiced for the sake of utility. The East and the West, like two dragons tossed in a sea of ferment, in vain strive to regain the jewel of life. We need a Niuka again to repair the grand devastation; we await the great Avatar. Meanwhile, let us have a sip of tea. The afternoon glow is brightening the bamboos, the fountains are bubbling with delight, the soughing of the pines is heard in our kettle. Let us dream of evanscence, and linger in the beautiful foolishness of things.

Source: https://terebess.hu/english/okakura.html

The Book of Tea
The Book of Tea

Sen no Rikyu by Tōhaku Hasegawa
Sen no Rikyu by Tōhaku Hasegawa


Trà Đạo
(Hay Trà Thư tiểu luận)

Okakura Kakuzo
Bảo Sơn dịch

Chén trà nhân loại

Trà nguyên thủy là một thứ thuốc sau biến dần thành một đồ uống. Ở Trung Hoa, vào thế kỷ thứ tám, uống trà được coi là một thú tiêu khiển thanh lịch trong giới thi ca. Đến thế kỷ thứ mười lăm, Nhật Bản nâng cao giá trị của Trà lên thành một tôn giáo của chủ nghĩa thẩm mỹ, tức là Trà Đạo. Trà Đạo là một đạo lập ra để tôn sùng cái đẹp trong những công việc tầm thường của cuộc sinh hoạt hàng ngày. Nó là nghi thức của đức tinh khiết và sự hòa hợp; nó làm cho người ta cảm thấy sự huyền bí của lòng hỗ tương nhân ái và ý nghĩ lãng mạn của trật tự xã hội. Bản chất của Trà Đạo là sùng bái sự “Bất Hoàn Toàn”, vì trong cái bất khả năng mà chúng ta đều biết là nhân sinh thế sự này có cái gì có thể làm được thì Trà Đạo luôn luôn cố gắng hoàn thành cho bằng được.

Triết lý của Trà không phải chỉ là một chủ nghĩa thẩm mỹ đơn giản theo ý nghĩa thông thường của nó, vì triết lý này, cùng với luận lý và tôn giáo biểu thị tất cả quan niệm của chúng ta về con người và tạo hóa. Nó là khoa vệ sinh, vì nó bắt buộc phải tinh khiết, nó là khoa kinh tế, vì nó chứng tỏ rằng an lạc là do sự giản dị nhiều hơn là do ở sự phức tạp và tổn phí mà ra; nó là một thứ kỷ hà học về tinh thần, vì nó minh định ý niệm về sự cân xứng của ta đối với vũ trụ. Sau chót, Trà Đạo tiêu biểu cho tinh thần dân chủ thực sự của Á Đông, vì nó đã khiến cho tất cả những người tôn sùng Trà Đạo thành những bậc thẩm mỹ quý phái.

Cái thế cô lập từ ngàn xưa của nước Nhật Bản đối với toàn thể thế giới, cái thế đã thúc đẩy người ta đến chỗ nội tỉnh nghĩa là tự xét mình, đã giúp cho Trà Đạo phát triển mạnh vô cùng. Nhà cửa, tập quán của chúng tôi, cách phục sức, cách nấu ăn, đồ sơn, đồ sứ, đồ vẽ – ngay chính nền văn học của chúng tôi – tất cả đã chịu ảnh hưởng của Trà Đạo. Người đã nghiên cứu về Văn hóa Nhật Bản, không ai là không biết đến Trà Đạo. Nó đã thấm nhuần vào vẻ thanh nhã của những khuê phòng cao quý, cũng như nó đã thâm nhập vào những nơi nhà tranh vách đất nghèo nàn. Nó đã dạy cho nông dân nước chúng tôi biết cách trưng bày hoa, nó dã dạy cho công nhân thấp kém nhất nước Nhật biết coi trọng những hòn đá, khe nước. Trong lối nói thông thường, ta vẫn gọi những người hờ hững đối với những tấn kịch nửa trang nghiêm nửa hài hước của chính mình, là những kẻ “thiếu hơi trà”. Và ta lại chê trách những nhà thẩm mỹ thô lỗ bất chấp những thảm kịch của thế gian, để mặc cho mình chuồi theo nguồn cảm xúc không kiềm chế, không chừng mực, là những kẻ “quá dư hơi trà”.

Người ngoại cuộc chắc thế nào cũng không khỏi ngạc nhiên về cái lối “kiểu cách bày vẽ” ra cho nhiều mà chẳng đi tới đâu ấy. Họ sẽ bảo: “Trong một chén trà sao mà lắm phong ba bão tố đến thế!”. Nhưng nếu chúng ta nhận thấy chén vui của nhân gian bé nhỏ như thế nào, mau chóng đầy tràn nước mắt như thế nào, và trong cơn khát vọng cái “vô biên vô hạn”, chúng ta dễ dàng uống cạn chén trà như thế nào, thì chắc chắn chúng ta sẽ không tự trách mình đã bày vẽ ra lắm chuyện vì chén trà Nhân loại đã tồi tệ hơn. Thờ “Tửu Thần Bacchus”, chúng ta đã hy sinh quá trớn, chúng ta lại còn biến đổi cả hình dạng đẫm máu của “Chiến Thần Mars” nữa. Tại sao ta không tự hiến thân cho “Camelia Nữ Vương” và đắm mình tiêu khiển trong dòng suối thân ái ấm áp chảy tự trên ban thờ Nữ Vương xuống? Trong chất nước màu hổ phách đựng trong chiếc chén sứ màu trắng ngà, những người đã gia nhập Đạo rồi có thể thưởng thức đức trầm mặc hiền từ của Khổng Tử, tính chua chát của Lão Tử, và hương thơm cao quý của chính Thích Ca Mâu Ni.

Những người không tự cảm thấy được cái bé nhỏ trong những công việc to tát của chính mình, rất có thể sơ xuất không nhận thấy được cái to tát trong những công việc bé nhỏ của người khác. Bất cứ một người Tây Phương trung lưu nào, sống trong cảnh êm đềm tự túc tự mãn, cũng đều không thấy trong nghi thức dùng Trà có gì khác hơn là một trường hợp của ngàn lẻ một những việc kỳ dị đã tạo thành cái tính kỳ cục và trẻ con của Đông Phương. Thấy Nhật Bản chỉ ham chuộng những nghệ thuật tao nhã của hòa bình, họ quen coi Nhật Bản như một nước dã man: nhưng từ khi Nhật Bản bắt tay vào cuộc tàn sát trên chiến trường Mãn Châu, thì họ lại gọi Nhật Bản là một nước văn minh. Sau lại còn không biết bao nhiêu lời bình luận về Quy luật của “Võ sĩ Đạo”, cái “Nghệ Thuật Chết” của quân nhân Nhật Bản, vui vẻ tự hy sinh tính mệnh; nhưng người ta ít chú ý đến Trà Đạo, cái đạo tiêu biểu rất nhiều cho “Nghệ Thuật Sống” của chúng tôi. Nhờ ở cái vinh dự đáng ghê sợ của chiến tranh mà được tiếng là văn minh, như vậy thà chúng tôi cam chịu là dã man còn hơn, thà chúng tôi đợi đến lúc nghệ thuật và lý tưởng của chúng tôi được người ta hiểu biết đến mà đương nhiên tôn kính còn hơn.

Biết đến bao giờ Tây Phương mới chịu hiểu hoặc tìm hiểu Đông Phương? Chúng tôi vốn rất sợ cái màng lưới kỳ cục thiên hạ đã thêu dệt ra về chúng tôi bằng những sự kiện và những truyện bịa đặt hão huyền. Nếu họ không bảo chúng tôi sống bằng chuột với dán, thì họ lại tưởng tượng chúng tôi sống bằng hương sen. Chúng tôi là một giống hoặc cuồng tín, bất lực, hoặc dâm đãng ty tiện. Họ đã cười thuyết duy linh của Ấn Độ dốt nát, đức khiêm nhượng của Trung Hoa là ngu xuẩn, lòng ái quốc của Nhật Bản là kết quả của thuyết túc mệnh. Họ còn cho rằng chúng tôi vì thần kinh hệ trì độn nên ít cảm xúc đau thương.

Tại sao chư vị không đem chúng tôi ra mà làm trò vui? Á Đông chúng tôi xin đáp lễ lại. Nếu chư vị biết chúng tôi đã nghĩ những gì, đã viết những gì về chư vị, chắc chư vị còn vui cười hơn nữa. Tất cả cái mị lực của viễn cảnh là ở đó, tất cả lòng cảm phục một cách vô ý thức những cái kỳ ảo, tất cả lòng oán hận một cách thầm lặng những cái mới lạ và vô định là ở đó mà ra. Người ta gán cho chư vị những đức tính quá cao thượng không ai có thể đố kỵ được, và buộc cho chư vị nhiều tội ác quá đẹp không ai có thể trách cứ được. Văn nhân của chúng tôi ngày xưa – những nhà hiền triết, bác học – đã kể cho chúng tôi nghe rằng chư vị có một cái đuôi xù giấu đâu ở trong quần áo, và chư vị thường ăn thịt trẻ sơ sinh! Chúng tôi đối với chư vị còn một điều này tệ hơn nữa là: chúng tôi vẫn thường nghĩ rằng chư vị là giống người kém thực tế nhất trần đời, vì người ta bảo chư vị chỉ thuyết giáo mà không bao giờ thực hành.

Rất may là những điều hiểu lầm như vậy ở bọn chúng tôi đã tiêu tan nhanh chóng. Việc thương mại đã bắt buộc phải dùng những thứ tiếng Âu Châu trên các hải cảng Á Châu. Thanh niên Á Châu đổ xô đến các trường đại học Tây Phương để hấp thụ nền giáo dục cận đại. Tuy chúng tôi chưa thấu hiểu sâu xa nền văn hóa của chư vị, nhưng ít ra chúng tôi cũng có thiện chí muốn học hỏi. Biết bao nhiêu đồng bào của chúng tôi đã theo đòi quá nhiều những tập quán và quá nhiều những lễ nghi của chư vị, họ nhầm tưởng rằng đeo cổ áo cứng và đội mũ lụa cao nòng là thấu hiểu ngay được nền văn hóa của chư vị. Thực đáng thương mà cũng đáng trách cho những kiểu cách ấy, nhưng dẫu sao thì nó cũng chứng tỏ rằng chúng tôi đã hạ mình muốn tiếp cận với nền văn minh của chư vị. Không may thái độ của Tây Phương lại thờ ơ đối với sự lý giải của Đông Phương. Hội truyền giáo Cơ Đốc sang nước chúng tôi để cấp phát chứ không phải để lãnh thụ. Sự hiểu biết của chư vị, nếu không căn cứ vào những giai thoại không đáng tin của những khách lữ hành, thì chỉ căn cứ vào dăm ba bài dịch thuật nghèo nàn của cả một nền văn hiến bao la rộng rãi của chúng tôi. Ít khi mà ngòi bút hào hiệp vô tư của một Lafcadio Hearn hay của một nhà văn như tác giả cuốn “Vận Mệnh Ấn Độ” (The Web of Indian Life) soi sáng vào khoảng âm u của Á Đông bằng ngọn đuốc cảm tình của chính chúng tôi.

Nhưng nói thẳng ra như vậy, rất có thể tôi lại tự phô cái dốt của mình ra về Trà Đạo. Chính cái tinh thần văn nhã của Trà Đạo bắt buộc chỉ được nói ra những điều người ta trông chờ muốn nghe ở mình mà thôi, chứ không được nói gì hơn. Song tôi lại không phải là một tay Trà Đạo văn nhã. Sự hiểu lầm lẫn nhau giữa hai Thế Giới Tân và Cựu đã gây ra biết bao nhiêu sự tổn thương, thiết tưởng khi người ta làm được một việc gì – cho dẫu cỏn con đến đâu đi nữa – mà giúp ích thêm được cho sự thông cảm của đôi bên thì người ta cũng chẳng cần phải biện giải làm gì. Nếu nước Nga chịu hạ cố tìm hiểu nước Nhật hơn thì có lẽ đã tránh được cảnh chiến tranh đẫm máu kinh khủng ở đầu thế kỷ hai mươi. Sự khinh thường không thèm hiểu biết đến những vấn đề Á Đông có những kết quả tai hại cho nhân loại không thể nói được! Đế Quốc Chủ Nghĩa Âu Châu lo sợ hồ đồ la lên mấy tiếng “Họa Da Vàng”, đã quên không nghĩ rằng Á Châu cũng có thể thấu hiểu được ý nghĩa thâm hiểm của cái “Họa Da Trắng”. Chư vị có thể cười chúng tôi “dư quá nhiều hơi trà”, vậy sao chúng tôi lại không thể ngờ rằng trong thể chất của chư vị Tây Phương “thiếu hơi trà”?

Chúng ta hãy ngăn các lục địa đừng châm chích nhau nữa, và chúng ta nên vì sự hỗ tương lợi ích của hai bán cầu, nếu không thì thực đáng buồn, mà xử sự khôn ngoan hơn. Chúng ta đã phát triển theo những chiều hướng khác nhau, nhưng không vì lý do gì cái nọ lại không bổ túc cho cái kia. Chư vị đã bành trướng thắng lợi nhờ có sự thiếu ổn cố; còn chúng tôi thì tạo ra một sự điều hòa nhưng không đủ sức chống lại xâm lăng. Chư vị có tin không? – Đông phương có một vài điểm hơn hẳn Tây phương!

Lạ một điều là nhân loại mãi vẫn chưa gặp nhau ở chén trà! Đó là cái nghi thức Á Đông duy nhất làm cho toàn thế giới kính mến. Người da trắng đã nhạo báng tôn giáo và luân lý của chúng tôi, nhưng họ đã không rụt rè chấp nhận cái món đồ uống sắc nâu vàng của chúng tôi. Tiệc trà buổi xế trưa, ngày nay đã thành một nghi thức quan trọng trong đời sống xã hội Tây Phương. Trong những tiếng khay chén khe khẽ va chạm nhau, trong những tiếng áo quần sột soạt dịu dàng của các bà các cô khoản đãi khách, trong những lời thăm hỏi ứng đáp thông thường về kem, về đường, chúng tôi biết lòng “Sùng Bái Trà” của người ta đã được chứng minh quá rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Đức tính cam chịu một cách rất triết lý của khách về cái số phận đương chờ đợi mình ở trong chất nước trà chẳng biết mùi vị ra sao, nói lên cho người ta thấy rõ rằng tinh thần Đông Phương đã nghiễm nhiên ngự trị trong lúc đó.

Nghe nói người ta tìm thấy tại Âu Châu bản văn đầu tiên viết về trà, ở trong truyện của một du khách người Á Rập kể lại rằng sau năm 879 mấy nguồn lợi chính của Quảng Đông là thuế đánh vào muối và trà. Marco Polo có ghi chép truyện một vị Hộ Bộ đại thần Trung Hoa năm 1285 bị cách chức vì đã chuyên quyền tự ý tăng thuế trà lên. Chính ở vào thời đại đại phát hiện, Âu Tây bắt đầu hiểu biết thêm về Á Đông. Vào cuối thế kỷ thứ mười sáu, người Hòa Lan truyền đi cái tin ở Đông Phương có một món làm bằng một thứ lá cây uống rất ngon. Các nhà du lịch Giovanni Batista Ramusio (1559), L. Almeida (1576), Maffeno (1528), Tareira (1610), cũng nói đến trà. Trong năm cuối cùng kể trên, thương thuyền của Hòa Lan Đông Ấn Độ Công ty đem những lá trà đầu tiên về Âu Châu. Trà được nước Pháp biết đến năm 1636, và lọt vào nước Nga năm 1638. Năm 1650, nước Anh hoan nghênh trà và khi nói đến trà thì ca ngợi coi là “một món đồ uống ngon tuyệt, tất cả các y sĩ đều tán thành món đồ uống Trung Hoa, mà người Trung Hoa gọi là trà, các nước khác thì gọi là tê (thé) hay ti (tea)”.

Cũng như tất cả những cái gì tốt đẹp ở trên đời, việc cổ xúy trà không tránh khỏi gặp sự phản đối. Những vị giáo đồ như Henry Saville (1678) tố cáo việc uống trà là một tập quán thô tục. Jonas Hanway (trong cuốn Trà Luận, 1756) cho rằng thói uống trà làm cho đàn ông thì mất hết tài cán và phong độ, còn đàn bà thì mất hết sắc đẹp. Thoạt kỳ thủy, giá trà rất mắc (khoảng mười lăm, mười sáu siu-linh một poong) khiến cho trà không thể thành một món thông dụng mà chỉ là “một món cao sang thượng đẳng dùng để khoản đãi trong những bữa tiệc long trọng, tặng phẩm dành riêng cho hoàng gia quý phái”. Tuy gặp những cản trở như vậy, tập quán uống trà bành trướng mau lẹ không thể tưởng tượng được, trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, những quán cà phê ở London, trên thực tế, đã biến thành những phòng trà, nơi hẹn hò của những bậc anh tài như Addison và Steele, tiêu khiển bên những “món trà”. Chẳng bao lâu, trà trở thành một món cần thiết cho cuộc sinh hoạt – một món có thể đánh thuế được. Nhân dịp, chúng tôi cũng xin nhắc qua về vụ Trà đã dự một phần hết sức quan trọng trong lịch sử hiện đại. Thuộc địa Mỹ cam chịu áp chế cho đến khi sức nhẫn nhục của con người phải nổi dậy trước những khoản thuế quá nặng đánh vào Trà. Nền độc lập của Mỹ bắt đầu từ ngày người ta quẳng những thùng trà xuống hải cảng Boston.

Hương vị Trà có sức quyến rũ làm cho người ta say mê không thể chống đối lại và đặc biệt là có thể lý tưởng hóa được. Vì thế cho nên những nhà văn u mặc hoạt kê Tây Phương đã không chậm trễ đem pha trộn ngay cái hương khí của tư tưởng họ với hương vị của trà.

Trà không có cái tính chất tự tôn xằng như của rượu, tự ý thức như của cà phê, hay ngây thơ khờ khạo như của ca cao. Ngay năm 1711, tờ Bàng Quang Nhật Báo (The Spectator) đã nói: “… Vì vậy cho nên tôi muốn đặc biệt trình bày và tiến dẫn những điều suy luận này của tôi với tất cả những gia đình mà công việc nội trợ khéo điều hòa, biết dành ra, một buổi sáng, một tiếng đồng hồ để dùng trà, bánh và bơ; và tha thiết khuyên họ hãy vì sự lợi ích của bản thân, đòi hỏi cho bằng được tờ nhật báo này gửi đến thật đúng giờ và coi nó như một bộ phận của bộ đồ trà”. Samuel Johnson tự tả chân dung mình là “một tay uống trà ngoan cố và vô sỉ, trong hai mươi năm trời chỉ chan thức ăn với nước của thứ lá mê ly tuyệt vời ấy; một tay lấy trà để tiêu khiển chiều hôm, lấy trà để giải muộn đêm khuya, và lấy trà để đón mừng buổi sáng”.

Charles Lamb, một tín đồ công nhiên của Trà Đạo, đã định đúng nghĩa hai chữ Trà Đạo khi viết rằng cái cảm khoái nhất đời ông là lén làm một điều thiện rồi ngẫu nhiên bị lộ. Vì Trà Đạo là nghệ thuật che giấu cái đẹp mà người ta có thể khám phá ra được, và gợi ra những điều mà tự mình không dám tiết lộ. Nó là cái phép ảo diệu cao quý tự cười mình, tuy bình tĩnh nhưng rất đáo để, và cũng vì thế mà nó chính là “u mặc” – cái cười của triết học. Tất cả những u mặc gia chân chính theo ý nghĩa đó có thể gọi là “trà triết gia” – chẳng hạn như Thackeray, và đương nhiên, Shakespeare. Những thi sĩ của Thời kỳ Đồi Phế (The Decadence) – lúc nào mà thế giới này chẳng đồi phế? – trong những kháng nghị chống vật chất chủ nghĩa, cũng đã mở đường khai lối cho Trà Đạo đến một trình độ nào. Rất có thể ngày nay, nhờ có suy nghĩ chín chắn về sự Bất Hoàn Toàn (The imperfect) mà Đông và Tây có thể gặp nhau trong một niềm an ủi lẫn nhau.

Các tín đồ Đạo Giáo thuật lại rằng ngay từ lúc sơ kỳ của “Vô Thủy” (No-Beginning), Tâm và Vật (Spirit and Matter) đã gặp nhau trong một trận tử chiến. Mãi sau Hoàng Đế, Thiên Thượng Thái Dương, mới chiến thắng được Chúc Dung, thổ địa và hắc ám tà thần. Tà thần, trong lúc hấp hối, đập đầu vào Thiên Khung Lung làm cho vòm ngọc bích tan ra từng mảnh. Các vì sao thì mất ổ, trăng thì lang thang vô định trong những hang sâu vực thẳm hoang lương của đêm tối. Tuyệt vọng, Hoàng Đế cho đi khắp bốn phương tìm người tu sửa Thiên Cung. Ngài không đến nỗi mất công vô ích, ở ngoài Đông Hải nổi lên một vị Nữ Hoàng, tức là Thần Nữ Oa, đầu sừng, đuôi rồng, mình mang hỏa giáp chói lọi. Bà đem hàn năm sắc của cầu vồng trong chiếc nồi thần của bà và kiến tạo lại vòm trời Trung Hoa. Nhưng người ta cũng kể lại rằng Nữ Oa đã bỏ quên không bịt hai kẽ nứt nhỏ của vòm trời xanh: Do đó phát minh ra nhị nguyên tính của tình ái – một đôi linh hồn cứ lăn tròn trong không gian không lúc nào ngừng mãi cho đến khi cả đôi hợp lại với nhau để hoàn thành Vũ trụ. Mỗi người đều phải tái thiết lại bầu trời hy vọng và hòa bình của mình.

Bầu trời của nhân loại ngày nay thực ra đã bị tan tác trong trận Đại tranh đấu dành lấy tài phú và quyền lực. Thế giới đương lần mò đi trong bóng tối của tư lợi và ô trọc. Người ta dùng ác tâm để mua tri thức, người ta làm điều thiện chỉ cốt để trục lợi riêng. Đông Phương và Tây Phương chẳng khác gì hai con rồng lồng lộn trong một biển cuồng loạn, tranh đấu một cách vô hiệu để dành giựt nhau viên bảo ngọc của nhân sinh. Chúng ta cần một người như Nữ Oa để chỉnh lý lại sự tàn phá, chúng ta mong Đại Thiên Thần hạ giới. Trong khi ấy, chúng ta hãy cùng nhau nhắp một chén trà. Ánh sáng xế trưa đương chiếu vào bụi trúc, dòng suối đương róc rách vui tai, và tiếng ngàn thông đương rì rào trong ấm trà của chúng ta. Hãy thả hồn mơ vào chỗ vô thường và lưu liên, tha thẩn trong cái vẻ cuồng dại mỹ miều của sự vật.

Nguồn: https://antuc-noiphet.blogspot.com/2022/06/tra-dao-okakura-kakuzo-bao-son-dich.html?m=1

Trà Đạo
Trà Đạo

In Praise of Shadows — Junichiro Tanizaki

Japanese Room
Japanese Room
(From In Praise of Shadows)

Junichiro Tanizaki

A Japanese room might be likened to an inkwash painting, the paper-paneled shoji being the expanse where the ink is thinnest, and the alcove where it is the darkest. Whenever I see the alcove of a tastefully built Japanese room, I marvel at our comprehension of the secrets of shadows, our sensitive use of shadow and light. For the beauty of the alcove is not the work of some clever device. An empty space is marked off with plain wood and plain walls, so that the light drawn into its forms dim shadows within emptiness. There is nothing more. And yet, when we gaze into the darkness that gathers behind the crossbeam, around the flower vase, beneath the shelves, though we know perfectly well it is mere shadow, we are overcome with the feeling that in this small corner of the atmosphere there reigns complete and utter silence; that here in the darkness immutable tranquility holds sway. The “mysterious Orient” of which Westerners speak probably refers to the uncanny silence of these dark places. And even we as children would feel an inexpressible chill as we peered into the depths of an alcove to which the sunlight had never penetrated. Where lies the key to this mystery? Ultimately it is the magic of shadows. Were the shadows to be banished from its corners, the alcove would in that instant revert to mere void.

This was the genius of our ancestors, that by cutting off the light from this empty space they imparted to the world of shadows that formed there a quality of mystery and depth superior to that of any wall painting or ornament. The technique seems simple, but was by no means so simply achieved. We can imagine with little difficulty what extraordinary pains were taken with each invisible detail—the placement of the window in the shelving recess, the depth of the crossbeam, the height of the threshold. But for me the most exquisite touch is the pale white glow of the shoji in the sturdy bay; I need only pause before it and I forget the passage of time.

The study bay, as the name suggests, was originally a projecting window built to provide a place for reading. Over the years it came to be regarded as no more than a source of light for the alcove; but most often it serves not so much to illuminate the alcove as to soften the sidelong rays from without, to filter them through paper panels. There is a cold and desolate tinge to the light by the time it reaches these panels. The little sunlight from the garden that manages to make its way beneath the eaves and through the corridors has by then lost its power to illuminate, seems drained of the complexion of life. It can do no more than accentuate the whiteness of the paper. I sometimes linger before these panels and study the surface of the paper, bright, but giving no impression of brilliance.

In temple architecture the main room stands at a considerable distance from the garden; so dilute is the light there that no matter what the season, on fair days or cloudy, morning, midday, or evening, the pale, white glow scarcely varies. And the shadows at the interstices of the ribs seem strangely immobile, as if dust collected in the corners had become a part of the paper itself. I blink in uncertainty at this dreamlike luminescence, feeling as though some misty film were blunting my vision. The light from the pale white paper, powerless to dispel the heavy darkness of the alcove, is instead repelled by the darkness, creating a world of confusion where dark and light are indistinguishable. Have not you yourselves sensed a difference in the light that suffuses such a room, a rare tranquility not found in ordinary light? Have you never felt a sort of fear in the face of the ageless, a fear that in that room you might lose all consciousness of the passage of time, that untold years might pass and upon emerging you should find you had grown old and gray?

Source: http://pdf-objects.com/files/In-Praise-of-Shadows-Junichiro-Tanizaki.pdf

Japanese Study Bay
Japanese Study Bay


Phòng khách kiểu Nhật
(Trích Ca Ngợi Bóng Âm)

Junichiro Tanizaki
Hà Vũ Trọng dịch

Một căn phòng khách (zashiki) kiểu Nhật có thể ví như một bức tranh thuỷ mặc, cửa giấy kéo (shoji) là chỗ mực nhạt nhất, còn gian bích khám (tokonoma) là chỗ mực đậm nhất. Mỗi lần nhìn thấy cái bích khám rất trang nhã trong căn phòng Nhật, tôi cảm phục cách người Nhật thấu hiểu được sự bí ẩn của bóng âm và cách họ sử dụng bóng âm và ánh sáng một cách nhạy cảm. Vì vẻ đẹp của bích khám không phải là công việc của thiết bị thông minh nào đó. Một không gian trống và lõm được bao lại bằng gỗ thô và vách tường mộc mạc để cho ánh sáng hút vào tạo nên những cái bóng mờ mờ bên trong khoảng không. Không còn gì nữa. Thế nhưng, khi nhìn vào bóng tối trầm tụ sau xà ngang, quanh bình hoa, dưới cái giá, dù chúng ta biết rõ đấy chỉ là những cái bóng, nhưng cảm giác khuất phục trong cái góc nhỏ này một bầu không khí ngự trị, một sự trầm mặc hoàn toàn; ở đây trong cái bóng tối là sự tĩnh tại bất biến đang thống trị. “Phương Đông huyền bí” là cách gọi của người phương Tây có lẽ để ám chỉ sự tịch mịch của những nơi u tối này. Và ngay cả chúng ta thuở bé cũng từng cảm thấy ớn lạnh khó tả khi nhìn vào những chiều sâu của cái khám mà ánh mặt trời chẳng bao giờ rọi tới. Chìa khoá của sự huyền bí này nằm ở đâu? Rút cuộc đó chính là phép thuật của bóng âm. Nếu như những bóng âm này bị xua ra khỏi mọi ngóc ngách thì gian bích khám này lập tức trở lại thành khoảng trống đơn thuần.

Thiên tài của tổ tiên chúng ta ở chỗ, qua việc cắt đứt ánh sáng ra khỏi cái không gian trống này họ đã truyền đó vào một thế giới của những bóng âm mang phong vị bí ẩn và chiều sâu vượt trội so với bất kì bức tranh tường hoặc sự trang trí nào. Đây có vẻ là một kĩ xảo giản dị nhưng không dễ dàng đạt tới. Chúng ta không khó hình dung ra những lao tâm khổ tứ với từng chi tiết vô hình, như việc lắp đặt song cửa trong hốc khám, chiều sâu của rầm ngang, độ cao của ngưỡng. Tuy nhiên đối với tôi, vẻ tinh tế nhất lại là vầng sáng trắng nhạt của bình phong giấy ở gian thư hiên (shoin) mà tôi chỉ việc dừng lại trước nó và rồi quên đi dòng thời gian trôi qua.

Thư hiên, như tên gọi, nguyên là một song cửa được xây nhô ra dành làm chỗ đọc sách. Tuy qua nhiều năm nó được coi là nguồn sáng dành cho gian bích khám, nhưng nó cũng lại thường xuyên giúp làm dịu và lọc những tia nắng chiếu xiên từ bên ngoài qua lớp bình phong giấy hơn là để thắp sáng bích khám. Ánh sáng khi chạm tới những tấm bình phong này thì đượm vẻ lạnh lẽo và hoang vắng. Một chút nắng từ ngoài vườn tìm cách len vào dưới mái hiên và xuyên qua hành lang nhưng rồi mất đi độ sáng và gần như kiệt quệ sức sống và chỉ làm nổi thêm màu trắng bệch của giấy. Đôi khi tôi nấn ná trước những bình phong này để ý xem bề mặt của giấy và có ấn tượng nó sáng chứ không chói.

Trong kiến trúc chùa, gian đại sảnh cách khu vườn một khoảng cách đáng kể; ánh sáng ở đó thật mờ nhạt bất kể mùa nào, vào ngày đẹp trời hay u ám, sáng, trưa, hay chiều tối, thứ ánh sáng mờ nhạt ấy hầu như không thay đổi. Và bóng râm trên những gờ bình phong có vẻ bất động kì lạ, như thể bụi bậm ở các góc đã trở thành một phần của giấy. Tôi chớp mắt mà không dám chắc ánh phát quang như mộng huyễn này, cảm thấy như một lớp sương bạc làm mờ thị giác. Ánh sáng từ giấy trắng mờ không đủ sức xua tan bóng tối dày của gian bích khám, thay vào đó lại bị bóng tối đẩy lùi, tạo nên một thế giới mông lung, nơi mà sáng tối không thể phân biệt được. Bạn có cảm nhận được sự khác biệt của thứ ánh sáng khuếch tán trong gian phòng ấy một sự thanh tịnh hiếm hoi không thể tìm thấy trong thứ ánh sáng bình thường không? Bạn đã có bao giờ cảm giác giống như sợ hãi khi đối mặt với sự vĩnh cửu, nỗi sợ rằng trong căn phòng đó bạn có thể mất hết ý thức về dòng thời gian trôi qua, những năm tháng không kể xiết trôi qua, để rồi khi bước ra ngoài bạn thấy mình đã già nua tóc bạc?

Nguyên tác: 陰翳礼讃 (In’ei reisan/Âm ế lễ tán), tuỳ bút, 1933-4. Tác giả: Jun’ichiro Tanizaki 潤一郎 谷崎 (1886-1965).

Nguồn: https://havutrongarchives.blogspot.com/2021/02/ca-ngoi-bong-am-tuy-but-mi-hoc-ve-van.html?m=1

In Praise of Shadows

The Inner Bamboo — Su Shi

Wen Tong, Hanging scroll, ink on silk, National Palace Museum, Taipei
Wen Tong, Hanging scroll, ink on silk, National Palace Museum, Taipei

The Inner Bamboo
Su Shi
(Translation into English by Lin Yutang?)

When a young bamboo sprouts, it is only an inch long, but the joints and leaves are already latent in it. All nature grows this way, whether it be cicadas and snakes, or bamboos that shoot up a hundred feet high. Nowadays the artists construct a bamboo, joint by joint and leaf by leaf. Where is the bamboo? Therefore in painting bamboos, one must have bamboo formed in one’s breast. At the time of painting, one concentrates and sees what one wants to paint. Immediately one follows the idea, handles one’s brush to pursue the image just seen, like a hawk swooping down on a rabbit. With a moment’s hesitation, it would be lost. This is what the artist Yuke taught me. I understood what he meant, but could not carry it out. That is because my hand refused to obey me, through lack of practice. There are things with which you are vaguely familiar; you seem to know it, but when you want to paint it, you are at a loss. This is true not only of painting bamboo. My brother Zeyou cannot paint; he merely understands the idea. I understand not only the idea, but also have learned the technique.

I have been of the opinion that men, animals, houses, and furniture have a constant form. On the other hand, mountains and rocks, bamboos and trees, ripples, mists, and clouds have no constant form, but have a constant inner nature. Anybody can detect inaccuracies in form, but even art specialists are often unaware of errors in the inner nature of things. Therefore some artists find it easier to deceive the public and make a name for themselves by painting objects without constant forms. However, when a mistake is made with regard to form, the mistake is confined to that particular object, but when a mistake is made in the inner nature of things, the whole is spoiled. There are plenty of craftsmen who can copy all the details of form, but the inner nature can be understood only by the highest spirits. Yuke’s paintings of bamboos, rocks, and dried-up trees may be said to have truly seized their inner nature. He understands how these things live and die, how they twist and turn, are blocked and compressed, and how they prosper and thrive in freedom. The roots, stalks, joints, and leaves go through infinite variations, never alike, and yet always appropriate; they are true to nature and satisfying to the human spirit. These are records of the inspirations of a great soul.

Note:
Su Shi (traditional Chinese: 蘇軾; simplified Chinese: 苏轼; 1037–1101), courtesy name Zizhan (Chinese: 子瞻), art name Dongpo (Chinese: 東坡)

Wen Tong (文同, 1018-1079), courtesy name Yuke (與可)

Hanging scroll, ink on silk, 131.6 x 105.4 cm, National Palace Museum, Taipei

Source: https://www.laphamsquarterly.org/arts-letters/inner-bamboo


Trúc mọc trong lòng
Tô Đông Pha [1]

Nguyễn Đình Đăng dịch từ Lin Yutang, The Chinese Theory of Art, có tham khảo bản gốc Trung văn của Tô Đông Pha (苏轼 文与可画筼筜谷偃竹记: Tô Thức – Truyện Văn Dự Khả vẽ trúc cong ở Vân Dương Cốc).

Khi măng trúc nhú lên, nó chỉ dài một thốn [2], nhưng trong nó đã tiềm ẩn các đốt và lá. Toàn bộ thiên nhiên trưởng thành như vậy, cho dù đó là những con ve hay con rắn, hay những cây tre cao vọt tới mười tầm [3]. Ngày nay các hoạ sỹ dựng hình cây trúc từng đốt một, vẽ từng chiếc lá. Trúc ở đâu? Vì thế, khi vẽ trúc phải có trúc mọc trong lòng đã [4]; lúc vẽ, tập trung để nhìn thấy cái mình muốn vẽ. Ngay lập tức dõi theo ý tưởng, cầm lấy bút để vẽ theo hình tượng vừa nhìn thấy, như con chim ưng lao xuống con thỏ. Chần chừ một chút là mất. Đó là điều Dự Khả [5] đã dạy ta. Ta hiểu ý ông, nhưng không sao làm theo được. Đó là bởi tay không làm được như ý muốn do thiếu luyện tập. Có những thứ mang máng quen, tưởng biết rồi, nhưng khi muốn vẽ thì không nổi. Điều này đúng không riêng gì với trúc. Em trai ta, Tô Triệt (蘇轍) không biết vẽ; cậu ấy chỉ hiểu ý tưởng. Ta không chỉ hiểu ý tưởng mà còn học được cả kỹ thuật nữa.

Khi Dự Khả bắt đầu vẽ trúc, ông không hề tỏ ra tự phụ, nhưng rồi người khắp nơi mang lụa kéo đến bu trước cửa nhà ông xin tranh. Dự Khả rất khó chịu, vứt lụa xuống đất, giận dữ nói: “Ta sẽ cắt hết lụa ra làm tất chân.” Khi Dự Khả trở về Dương Châu (nay là Dương Huyền ở Thiểm Tây) còn ta ở Tô Châu, ông viết thư cho ta: “Dạo này tôi có nói với các học giả rằng trường phái vẽ trúc của tôi đã chuyển về Tô Châu rồi, và các sưu tập gia phải về đó mà tìm. Bây giờ tôi chắc tất cả nguyên liệu làm tất chân sẽ đổ về nhà ông.” Ông viết thêm hai dòng tái bút rằng ông muốn vẽ một cây trúc cao vạn thước trên một tấm lụa Nga Khê (鹅溪). Ta nói với ông rằng để vẽ cây trúc như thế thì phải cần hai trăm năm mươi thất lụa [6], và ta biết ông đã chán vẽ rồi mà chỉ muốn lấy lụa thôi. Dự Khả không đáp lại được mà chỉ nói rằng ta nói vớ vẩn và dù sao thì cũng chẳng có trúc nào cao vạn thước cả. Ta trả lời ông bằng hai dòng từ một bài thơ:

“Thế gian diệc hữu thiên tầm trúc,
Nguyệt lạc đình không ảnh hứa trường.”

(世间亦有千寻竹,
月落庭空影許長)

(Tạm dịch:
“Thế gian có trúc cao vạn thước:
Trăng rọi trên sân đổ bóng dài.”)

(Nghĩa là: “Có trúc cao vạn thước nếu nhìn vào bóng nó dưới ánh trăng in trên mặt đất.”)

Dự Khả cười và nói: “Họ Tô bao giờ cãi cũng giỏi, nhưng nếu có hai trăm năm mươi thước lụa, tôi sẽ mua một trang trại ở quê để dưỡng già.” Ông tặng ta bức tranh này vẽ trúc ở Vân Dương Cốc (篔簹谷) và nói với ta rằng chúng chỉ cao vài thước, nhưng trông như cả vạn thước…

Dự Khả qua đời ngày 20 tháng Giêng năm 1079. Mùng 7 tháng Bảy năm đó ta mang bộ sưu tập tranh của mình ở Hồ Châu (湖州) ra phơi. Bỗng dưng thấy lại bức tranh này, ta bật khóc.

Dịch xong ngày Chủ Nhật 1. 12. 2019.
__________
Chú giải của người dịch:
[1] Tô Thức (蘇軾), bút danh Đông Pha (東坡) (1036 – 1101) – hoạ sỹ, văn sỹ, thi sỹ và chính trị gia đời Tống, được coi là một trong những nhân vật hoàn hảo nhất trong văn học cổ điển Trung Quốc.
[2] 1 thốn (寸) bằng 33.33 mm.
[3] 1 tầm (尋) bằng 8 xích (尺), hay 8 thước Trung Quốc. Một thước bằng 10 thốn, tức 33.33 cm. Như vậy 10 tầm bằng 80 thước, tức 26.7 m.
[4] Câu “Trúc mọc trong lòng” (胸有成竹: hung hữu thành trúc) nay đã trở thành một thành ngữ, có nghĩa phải làm chủ hoàn toàn một tình huống, hay có kế hoạch sẵn trong đầu để đối mặt với khủng hoảng.
[5] Văn Đồng (文同), bút danh Dự Khả (與可) (1019 – 1079) – hoạ sỹ Bắc Tống, nổi danh vì vẽ trúc, một trong những điển hình của văn nhân họa (文人画) hay sỹ nhân hoạ (士人画), tức hội hoạ của các học giả, lý tưởng hóa tính tự phát và vẽ không cần tiền thù lao. Văn Dự Khả và Tô Đông Pha là hai anh em họ bên ngoại.
[6] 1 thất (匹) bằng 4 trượng 丈, tức 40 thước (13.3 m).

Dự Khả, Mặc trúc (Trúc vẽ bằng mực) (t.k. XI), mực nho trên lụa, 131.6 x 105.4 cm. Bảo tàng Cố Cung Đài Loan.

____________
© Nguyễn Đình Đăng, 2019 – Người dịch giữ bản quyền bản dịch tiếng Việt. Bạn đọc có thể lưu giữ bản dịch này để sử dụng cho cá nhân mình và chia sẻ nguyên văn và miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép, hiệu đính lại bản dịch này, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, hay nhằm mục đích thương mại (kể cả tại các trang blog, thư viện điện tử trên internet mà để đọc được hay tải xuống người đọc phải trả tiền để mở tài khoản) v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của người dịch.

Nguồn: https://m.facebook.com/nt/screen/?params=%7B%22note_id%22%3A3668107976546249%7D&path=%2Fnotes%2Fnote%2F&_rdr

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3180960495496162&id=100007467282612&m_entstream_source=timeline