Đá — Chân Văn

416B2A71-0C48-4412-B405-7329F599A691
Đá
Chân Văn
(Đỗ Quý Toàn/Ngô Nhân Dụng)

Ở Vườn Nai có các thầy, các cô rất dễ thương. Xe đến nơi, bước lên sườn đồi, nhìn thấy khuôn mặt một sư cô, một sư chú thôi, là tự nhiên hai lá phổi mình tự động hít một hơi dài sung sướng. Thế là quên hết những gió bụi dọc đường. Gặp một người quen, chắp tay búp sen, mỉm cười; chẳng cần nói một câu, trong giây lát trao đổi nhau biết bao nhiêu niềm thân thiết.

Thế nhưng mà (phải xin quý thầy, quý cô ở Vườn Nai tha lỗi), mỗi lần trên đường tới Vườn Nai, trong lòng tôi nôn nao một niềm vui nho nhỏ. Muốn quên nó đi không được, cứ dìm nó xuống lâu lâu nó lại ngoi lên. Đó là cái cảm giác hạnh phúc biết mình sắp được gặp các tảng đá. Khi xe leo lên dốc quanh sườn đồi, miệng mở ra nhoẻn những nụ cười đầu tiên, là lúc nhìn thấy mặt các anh chị đá xếp hàng hai bên đường, như những người bạn cũ chung thủy. Mà cứ y như rằng, hễ mình mỉm miệng cười thì các anh các chị đá cũng cười theo đáp lễ. Còn như nếu mình mải nói chuyện quên không cười chào thì các anh chị đá vẫn bình tĩnh trầm ngâm, không một lời hờn trách bao giờ!

Có lần đi lang thang trong tu viện, qua xóm Vững Chãi, qua các dãy nhà tạm trú của các thiền sinh, đi sâu vào phía trong, sau những mảnh kiếng thu điện mặt trời, theo con đường mòn xuống thung lũng, tôi gặp một tảng đá thật lớn, cao quá đầu người, bề mặt phẳng gần bằng một cái chiếu vuông. Đây rồi! Đứng lại, chắp tay chào, nhìn tảng đá mà thở một hơi dài, không khí núi ngập đầy hai lá phổi! Tảng đá này chắc phải là anh, chị em ruột với một tảng đá ở Làng Cây Phong mà tôi vẫn đến chào mỗi khi về Làng. Leo lên trên mặt bằng phẳng, tôi cũng ngồi xuống, xếp hai chân lại, thẳng lưng lên, sung sướng được thở ra thở vào cùng với đá. Một vài lần như vậy, tới một bữa tôi liếc nhìn sang phiến đá bên cạnh, chợt thấy một cái tọa cụ có ai đã cất dưới chùm lá cây. Tọa cụ được giấu kín dưới khe đá để che cho khỏi ướt nếu trời mưa! Thật là vui, khi biết có thêm người đã ngồi trên tảng đá này! Chắc một thầy, hay một sư cô nào đó đã tới đây xin kết bạn thân với anh, chị Đá này nhiều lần trước. Chắc từ lâu rồi, người bạn đá ấy đã tới đây ngồi nhiều lần cho nên mới đem cả tọa cụ tới cất một chỗ! Khi đứng dậy chắp tay vái chào từ giã anh Đá, tôi cũng gửi một lời chào cho người bạn đá ấy – mà tới giờ tôi chưa biết là ai, hay là những ai!

Không biết tu đến kiếp nào mình mới buông bỏ được tấm lòng yêu đá. Tình yêu, như chúng ta thường bảo nhau, chẳng ai biết nó là thế nào! Đó là một tâm trạng rất khó phân tách rõ ngọn nguồn. Chỉ biết, không gặp mặt thì nhớ, chờ nhau lòng khấp khởi, trông thấy nhau thì hớn hở vui mừng. Gặp nhau không ai nói với ai một lời, nhưng biết bao nhiêu nỗi niềm được truyền qua lại, không thể định nghĩa đó là những nỗi niềm gì. Từ nhỏ chúng ta đã trải qua những kinh nghiệm như thế. Đối với một người bạn cùng xóm, một thầy giáo, một cô giáo, hoặc ông chú, bà cô nào đó. Đến tuổi dậy thì tâm trạng đó càng hay xãy ra. Ai chưa yêu thì không thể nào hiểu được. Người yêu đá cũng vậy. Ngồi quán chiếu về đá, về tình yêu mình đối với đá, về lẽ vô thường của vạn hữu, về lịch sử trái đất, lịch sử địa chất, cả lịch sử thành hình vũ trụ. Cứ như thế hết lần này sang lần khác, cũng khó hiểu được tại sao mình bị lòng yêu đá ràng buộc đến như thế. Không hiểu rõ nguồn cơn, thì chưa biết làm sao để mà rũ bỏ.

Cho nên, xin quý vị hãy coi đây là một bài sám hối. Hoặc nói như anh chị em tin thờ Chúa, đây là những lời ăn ăn xưng tội, confessions. Tôi yêu đá. Yêu chưa thể nào bỏ được. Phải tới rặng Rocky Mountains ở Alberta, Canada. Đứng đó mà nhìn lên, chiếm đầy cả bầu trời chỉ toàn là đá. Phải tới Vân Nam, nhìn những bức đại tự chính tay đá vẽ trên vách núi nét bút thảo lượn phơi phới như rồng bay. Phải thức dậy ở Làng Cây Phong sau một đêm mưa tuyết, nhìn xuống vườn thấy những tảng đá hôm qua đã biến mất, chỉ còn những gò tuyết trắng êm như nhung! Đá, ở dưới lớp tuyết âu yếm che giấu đó là đá! Ở bên làng, có lúc người ngồi yên trên tảng đá giữa rừng, đàn nai thản nhiên đi qua không sợ hãi, nghĩ con người cũng hiền như tảng đá. Phải nằm soải trên nền đá ấm áp một buổi trưa mùa Thu, nhìn lên những hàng lá đổi màu. Phải lượm một hòn sỏi trong khe suối, hay trên bãi biển, đưa lên nhìn không chán mắt, không nỡ rời tay. Có những lúc nhìn thấy đá, bỗng ngây người, tự biết mình si ngốc mà không bỏ được, không hiểu vì sao. Đó là tình yêu.

Đến Vườn Nai, nhìn chung quanh đầy bè bạn, bát ngát, trùng trùng, lố nhố, trên ngó xuống dưới ngó lên, đàn đúm với nhau những đá là đá! Hỏi không dao động trong lòng sao được?

Ở Vườn Nai có những trường thành đá xếp hàng trên lưng dãy núi cao tuốt luốt, trông xa như đám trẻ em nối đuôi nhau lom khom chơi trò Rồng Rắn, em này đặt tay trên lưng em kia, vừa bước đi vừa hát nhịp nhàng. Có những tảng cao ngất trời tụm năm, tụm bảy lưng chừng non, như mấy người bạn vừa ngồi ngắm cảnh vừa trò chuyện cùng nhau. Những tảng đá hùng vĩ trên đỉnh cao đứng thản nhiên nhìn xuống đám chúng sinh dưới chân đồi bước chân theo nhau thiền hành. Người đang bước chân đi, qua một khúc rẽ, bỗng đứng sững lại, ngẩn người, vì trước mắt hiện ra một khuôn mặt đá rạng ngời! Có những bức vách đá sừng sững, phơi mặt với gió sương trên lưng chừng núi qua bao nhiêu triệu năm trông như có người đã phạc thành một bức tường, phơi một mặt đá xám như trang giấy chờ họa sư tới đưa tay, đưa một đường tuyệt bút. Nhìn kỹ thì thấy chẳng cần ai đem bút tới vẽ vời làm chi. Chính những đường gân trên mặt đá, ánh sáng chiếu vào, đang lung linh hiện lên những thư pháp nhiệm mầu!

Cả những hòn đá cuội nằm rải hai bên đường, cũng đầy tình ý. Có người nhặt đá nắm trên tay âu yếm. Hình như óc chiếm hữu chưa bỏ được, đem về nhà rồi cũng không biết bầy đâu cho hết. Ngày xưa bên Tàu có ông Ngưu Tăng Nhụ (Niu Seng Ju, 779 – 847, đời Đường) được mô tả là người “yêu đá như yêu con cháu, cung kính với đá như đối với bạn bè.” Nhưng ông cũng quý đá như bảo ngọc. Nói đến châu ngọc, không khỏi dấy lên lòng chiếm hữu. Nhiều anh chị em đi qua Vườn Nai đã xếp các hòn đá cuội lại như muốn gửi những thông điệp cho chính mình hay cho người một kiếp sau nào sẽ đi qua. Vẫn muốn sử dụng đá như những phương tiện truyền đạt không lời.

Nhưng mà khi chúng ta đứng đối diện, nhìn tận mặt một tảng đá đứng hay ngồi tĩnh tọa bên đường, lúc đó mới là lúc người cùng đá giao cảm với nhau với tấm lòng mở rộng, bình đẳng, thấm sâu và bền chặt nhất. Mình nhìn đá, đá nhìn mình. Mình mỉm cười, đá nháy mắt. Mình không cần nói một câu, đá hiểu hết. Mình chắp tay, cúi đầu vái đá. Đá lặng thinh, coi như mình đang vái một cõi vô thường.

Tôi không nhớ mình đã có thói quen vái chào các tảng đá tự năm nào, ba hay bốn chục năm trước. Nhưng gần đây càng ngày thói quen càng nặng, gặp đá là cúi đầu thi lễ. Đứng chụm hai chân, thẳng lưng, nhìn đá như là đá, chắp hay bàn tay lại, cung kính nghiêng mình. Bởi vì không biết cách diễn tả nào khác. Mình không thể nói với đá được, vì đá không có tai nghe. Ôm đá cũng là một hành động dễ thương, nhưng đá không thể đáp lại đưa hai tay ôm mình để đáp lễ được. Yêu ai mình không nên đặt người ta vào một hoàn cảnh bố rối như thế. Cho nên, cứ cúi chào nhau, nghiêng mình một lúc lâu, trong giây phút đó những tâm tình được truyền qua lại, biết không thể truyền bằng lời nói được.

Có lẽ lần đầu tôi cúi chào đá là do ảnh hưởng của bốn chữ “bái thạch vi huynh,” nghĩa là người lạy đá, để kết nghĩa nhận đá làm anh. Trước khi Phan Bội Châu viết bài phú mang tên đó, bài này rất nổi tiếng, thì nhiều nhà văn bên Trung Hoa đã hành động như thế rồi. Một người nổi tiếng nhất là ông Thẩm Quát, vào thế kỷ 11. Một lần tôi hỏi ông Tạ Trọng Hiệp, một nhà thư tịch học uyên thâm, về điển tích“bái thạch vi huynh,” không ngờ ông về nhà viết cho một lá thư dài cho biết những ai đã làm công việc đó. Không ngờ thói quen này đã được truyền thụ qua nhiều đời như thế!

Thói quen gặp đá cúi chào tôi đã nhiễm từ mấy chục năm nay, nhưng gần đây tôi hay vái chào hơn, và chào một cách chân thành, kính cẩn, thấm thía hơn, cũng nhờ ảnh hưởng của Anica.

Năm Anica chưa đầy một tuổi thì cha mẹ cháu từ Mỹ sang Thái Lan làm việc. Cháu lớn lên với các chị giữ em người Thái, đến vườn trẻ chơi với trẻ con Thái, được các sinh viên học trò của bố mẹ bồng bế. Cháu học được thói quen nghiêng mình vái lạy mỗi khi đi qua trước bàn thờ Bụt; mà ở Thái Lan thì mỗi ngã tư lại thấy một bàn thờ. Cháu học được tiếng “Vái,” một tiếng Thái Lan giống tiếng Việt.

Một lần về California thăm ông bà ngoại, lúc lên 3 tuổi, Anica ở ngoài sân chơi tha thẩn với mấy khóm hoa trong vườn. Cháu đưa tay xoa trên mấy bông hoa lavender (tiếng Việt gọi là hoa oải hương), rồi bước tới đưa hai tay cho ông ngoại ngửi mùi thơm. Cháu vuốt, vuốt mấy chùm hoa tím mỏng manh nhoi lên từ mặt đất, cao ngang tầm tay cháu, như vuốt má một em bé. Bỗng nhiên có lúc cháu ngưng tay vuốt hoa; cháu chắp hai tay lại và nghiêng mình rất sâu, vái lạy mấy bông hoa.

“Anica! Tại sao Anica vái bông hoa?”

Anica quay nhìn ông ngoại, miệng trả lời ngay không cần suy nghĩ, bằng tiếng Anh: “Because, it’s beautiful!” (Bởi vì hoa đẹp quá!)

Chúng ta đâu có cách nào nói cho một bông hoa hiểu, rằng, “Hoa ơi, bạn đẹp quá!” Hoặc “Bác Hoa ơi, bác đẹp quá!” hay “Cô Hoa ơi, cô đẹp quá!” Đối với một em bé lên ba chưa biết nói tiếng người đầy đủ, làm sao diễn tả được tấm lòng yêu mến, hâm mộ nức lên trong lòng? Làm sao xin kết bạn được với bông hoa? Không ai dậy cháu cách diễn tả nào khác. Anica đã chắp tay vái; như vẫn vái Bụt.

Kể từ khi học Anica, tôi đã thay đổi những lần tôi vái chào các tảng đá. Trước kia, tôi chào tảng đá như một người anh, một người mình kính trọng nhưng không dám gần gũi thân mật quá, sợ gần gũi quá thì thiếu niềm tôn kính. Tôi đoán các cụ đời xưa như Thẩm Quát hoặc Phan Bội Châu “bái thạch vi huynh” cũng mang cùng một thái độ cung kính mà xa cách như thế.

Nhưng cháu Anica đã dậy tôi sống với thái độ mới. Chúng ta có thể vái chào bông hoa, vái chào tảng đá, giống như mình vái Bụt. Bụt ở trong mình, mình ở trong Bụt. Đá ở trong mình, mình cũng trong đá, hai bên cảm ứng với nhau. Cảm ứng đó phải được thực tập nhiều lần một kinh nghiệm sống, sống một cách tự nhiên, để cho lòng mình thật sự cung kính, chuyên tâm chú ý cúi đầu vái lạy. Cảm ứng đó cũng không thể suy nghĩ, không thể thảo luận hay giải thích được.

Khi nói đến đá chúng ta tưởng đó là tiêu biểu của sự trường tồn. Nhiều người vẫn chỉ đá, chỉ sông nước mà thề nguyền với nhau, coi như không bao giờ thay đổi! Ông Thẩm Quát (1031 – 1095, đời Tống) lạy đá nhận làm anh; nhưng ông cũng nghiên cứu đá như một nhà địa chất học. Nhờ thế đã nhìn thấu trong đá thấy lẽ vô thường.

Thẩm Quát là một người bác văn quảng kiến, người đầu tiên viết về đặc tính kim nam châm làm la bàn (trong sách Mộng Khê Bút Đàm in năm 1088, 100 năm trước cuốn sách De naturis rerum và De ustensilibus của Alexander Neckam ở Âu châu bàn về chuyện này).

Nhờ quan sát ông khám phá ra sao Bắc Đẩu không phải là phương Bắc “thật” theo từ tính của kim nam châm. Ông là người đứng đầu viện thiên văn tại triều đình, bỏ 5 năm nghiên cứu quan sát, ghi chép chuyển động của mặt trăng trước khi bị triều đình xóa bỏ hết công trình. Ông thật là một “người thời Phục Hưng’ mấy trăm năm trước thời Phục Hưng ở Âu châu, vừa là một nhà toán học, một nhà phát minh, một thi sĩ, một người tham thiền, nghiên cứu y học và dược tính cây cỏ; có lúc lại làm bộ trưởng tài chánh, làm tổng thanh tra trong chính phủ, trước khi bị tước bỏ hết chức tước vì theo phái cải cách Vương An Thạch.

Những người yêu đá chú ý đến Thẩm Quát vì ông “lạy đá gọi bằng anh”. Nhưng cũng còn vì ông đã nêu ra những giả thuyết về sự biến chuyển hình thái đất đá (geomorphology). Năm 1074 đi thăm rặng núi Thái Hàng (phân chia hai vùng Sơn Đông và Sơn Tây bên Tầu), ông thấy trên núi có những vỏ sò hóa thạch mặc dù ngọn núi ở cách xa biển mấy trăm cây số; ông đưa ra giả thiết vùng này trước kia phải là bãi biển. Ông cũng khám phá những cây tre hóa thạch ở một vùng khí hậu lạnh, chung quanh không hề có bóng tre; để đưa ra giả thuyết khí hậu trong thiên hạ từng thay đổi nóng hóa lạnh, lạnh trở thành nóng. Khi quan sát đất bồi ở giữa các dãy núi trong rặng Thái Hàng và trong khe núi Nhạn Đãng (gần Ôn Châu bây giờ) ông nhận thấy những vùng đất phù sa tích lũy biết bao đời trước sau đó đã bị soi mòn trải qua nhiều thời đại kế tiếp, để lại các tảng đá hình dung cổ quái, chứng tỏ mặt đất đã thay đổi với thời gian, khi lên khi xuống. Trên mặt đất, trong núi non vững như thế mà cũng là những cuộc bể dâu chẳng có gì thường tồn cả.

Một người chứng kiến và suy ngẫm về lẽ vô thường một cách sâu xa như thế, lại là người đã bái thạch vi huynh!

Cho nên, khi nghiêng mình vái chào các ông anh bà chị đá của chúng ta trong Tu viện Vườn Nai, chúng ta lâu lâu có dịp nhắc nhở cùng nhau: Các anh, các chị đá ơi, chẳng ai thường tồn đâu, lũ chúng ta đều như vậy cả.

Những ai đã qua Vườn Nai trong 10 năm qua thì chắc ghi nhận bên phải đường leo trên lối vào có hình ảnh một tảng đã đã vỡ làm đôi. Mấy năm đầu còn trông thấy một tảng đá gần như nguyên con, bị nứt ở giữa, hé ra một khe nhỏ hình chữ V nhỏ, rồi mỗi năm kẽ đá vỡ lại tách rộng thêm ra. Thế rồi kẽ nứt mở rộng thêm, hai mảng nghiêng qua hai phía, vẽ thành một chữ V lớn, càng ngày càng rộng. Chắc sẽ có ngày hai tảng đá mới mới tìm được thế thăng bằng, ngưng không nghiêng thêm nữa. Hay là sẽ có ngày một tảng, hoặc cả hai tảng, cùng sụp đổ và nằm xuống?

Bao nhiêu tảng đá khác ở các sườn núi, trong thung lũng Vườn Nai, cũng đang nhúc nhích như thế? Đá di động, đá nhích từng bước. Mặt đất lâu lâu lại rùng mình. Cả trái đất đêm ngày cựa quậy. Gió, cát, hơi nước cũng lưu chuyển tuần hoàn. Nếu mắt chúng ta có khả năng nhìn được phong cảnh đó biến chuyển suốt một trăm triệu năm, một tỷ năm, chắc chúng ta sẽ thấy chung quanh ta là một vũ khúc! Vũ điệu của đá, cũng giống như các điệu múa của loài người, đều biểu diễn tính vô thường. Vũ công không thể đứng yên bất động. Vũ điệu là cái gì diễn ra giữa hai vị trí của bàn chân, giữa hai vị trí của một cánh tay. Nhưng nó chính là chuyển động, hay nó là khoảng trống giữa hai chuyển động? Hay là cả hai? Hoặc không là gì cả? Múa là nghệ thuật của vô thường. Giống như khi Thẩm Quát nhìn rặng núi Thái Hàng mà thấy những biến hóa địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm, chúng ta có thể nhìn các tảng đá giang tay nhau quây quần ở bốn phía Vườn Nai mà nghiệm thấy hình ảnh mặt đất đã thay đổi suốt những thế kỷ qua như thế nào, trước khi loài người có mặt trên trái đất. Những tảng đá đứng lặng yên kia thực sự đã tham dự vào một điệu múa muôn đời của vũ trụ. Ngay bây giờ đá vẫn còn đang múa lượn!

Nguồn: https://langmai.org/dai-may-tim/van/cau-van-cua-long-truoc-2014/da/

Plum Blossoms — Motsurin Jōtō (Bokusai)

http://www.metmuseum.org/art/collection/search/670896
Motsurin Jōtō (Bokusai), Plum Blossoms


Plum Blossoms

Motsurin Jōtō (Bokusai)

Plum blossoms, symbolic of the arrival of spring, were a favored subject among scholar-gentleman painters in China, but when Chinese ink paintings of plums arrived in Japan their imagery became widespread within Zen circles. This composition of a gnarled plum tree framed by a circle of ink wash may reflect the use of the circle in Zen painting and calligraphy as a visual representation of words from the text of the Heart Sutra, “form is void and void is form,” and as a symbol of enlightenment.

Motsurin, a Zen artist-monk, might also have chosen plum blossoms because they were beloved of his mentor Ikkyū Sōjun (1394–1481), an abbot of Daitokuji temple in Kyoto known for his poetry, calligraphy, and flagrantly unorthodox behavior. Motsurin’s inscribed text[1] claims that even elegant peonies and sweet jasmine[2] cannot match the plum as a representation of the spring season.

Source: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/670896

Note:
[1] Text:
I walk over the stream and garden in search of flowers. / The plum tree stands tall and welcomes the immortals. / Its elegant appearance in winter surpasses its peers. / Fragrance that lingers even after three bathings is unique to this flower. / Peonies are supreme as the flowers of the rich, / jasmine is superior as the flower of purity. / But these are inferior to this earliest one of flowers, / for it captures the spring of myriad blossoms.

Source: http://burkecollection.org/catalogue/124-plum-blossoms

[2] more likely gardenia

Hoa Mai
Một Luân Thiệu Đẳng (Mặc Trai)
(Võ Tấn Phát dịch)

Hoa mai, biểu tượng của lập xuân, là một chủ đề yêu thích của các họa sĩ trong giới văn nhân sĩ phu Trung Hoa, nhưng khi những bức thủy mặc vẽ mai của Trung Hoa đến Nhật thì hình ảnh mai lại lan truyền rộng rãi trong Thiền giới. Bố cục của một cành mai gân guốc đóng khung trong vòng tròn mực nhạt có thể phản ánh cách sử dụng vòng tròn trong hội họa và thư pháp Thiền như một lối trình bày trực quan một đoạn trong Tâm Kinh: “không chính là sắc, sắc chính là không”, và như một biểu tượng của giác ngộ.

Một Luân Thiệu Đẳng, một thiền sư họa sĩ, có lẽ đã dùng hoa mai vì chúng được yêu quý rất mực bởi sư phụ của ông, Nhất Hưu Tông Thuần (1394–1481), trụ trì Đại Đức Tự ở Kyoto, nổi tiếng về thi ca, thư pháp, và lối sống ngang tàng phá giới. Thủ bút[1] của Một Luân Thiệu Đẳng trên bức hoạ cho rằng ngay cả mẫu đơn thanh tú và chi tử[2] ngọt ngào cũng không thể sánh được với mai để đại diện cho mùa xuân.

Nguồn: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/670896

Ghi chú:
[1] Thủ bút:
Ta dạo qua suối qua vườn tìm hoa.
Cội mai vươn cao nghênh đón thần Phật.
Vẻ thanh tú của mai trong mùa đông vượt hết các loài khác.
Sau ba cơn mưa hương vẫn lưu lại thì chỉ có ở mai.
Mẫu đơn là loài hoa trưởng giả,
Chi tử là là loài hoa thanh khiết.
Nhưng vẫn kém loài hoa nở sớm nhất,
Vì mai nắm bắt được mùa xuân bằng vô vàn đóa hoa.

Nguồn: http://burkecollection.org/catalogue/124-plum-blossoms

[2] Bản tiếng Anh là jasmin (tố phương hoa, hay hoa nhài), nhưng có lẽ là hoa gardenia (chi tử, hay dành dành) được trồng rộng rãi ở Nhật

Note:
没倫紹等 (墨斎) 筆 梅図
Một Luân Thiệu Đẳng (Mặc Trai) Bút Mai Đồ

Plum Branch — Yi Yu-won

Yi Yu-won, Plum Branch
Yi Yu-won, Plum Branch

Plum Branch
Yi Yu-won (Korean)

As one of the earliest trees to flower, the plum, a popular subject in painting, represents winter. The delicate but tenacious beauty of plum blossoms blanketed in late winter snow was taken by Confucian scholars as a metaphor for facing hardship with dignity and elegance. Yi Yu-won, a recognized painter, poet, and calligrapher as well as a distinguished scholar-official, served as prime minister under Emperor Gojong (reigned 1864–1907). In this work he skillfully juxtaposed the strong, angular strokes of the plum branch with thin, precise offshoots dotted with delicate blossoms. Painting on a gray background evocative of an overcast day, Yi created depth through the inclusion of a smaller branch whose shape echoes that of the main one in a lighter hue.

Source: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/40445

Cành Mai
Lí Dụ Nguyên (Triều Tiên)
(Võ Tấn Phát dịch)

Là một trong những loại cây nở hoa sớm nhất, mai – một chủ đề phổ biến trong hội họa – tượng trưng cho mùa đông. Vẻ đẹp mong manh nhưng bền bỉ của hoa mai bao phủ trong tuyết cuối đông đã được các sĩ phu Khổng Giáo lấy làm ẩn dụ cho việc bậc quân tử dù phải đối mặt với gian nan vẫn giữ tiết tháo và thanh nhã. Lí Dụ Nguyên, một họa sĩ, thi sĩ, và nhà thư pháp nổi tiếng, cũng là một sĩ phu và vị quan nổi danh, từng là tể tướng dưới triều Hoàng đế Cao Tông (trị vì 1864–1907). Trong tác phẩm này ông đã khéo léo kết hợp những nét gãy khúc, mạnh mẽ của cành mai với những nét chính xác của các nhành non mảnh dẻ điểm xuyết bằng những bông hoa mỏng manh. Vẽ trên nền xám gợi nên một ngày trời mây u ám, họa sĩ đã tạo ra chiều sâu bằng cách thêm vào một nhánh cây nhỏ có hình dáng như một phản hồi của nhánh chính với màu sắc nhạt hơn.

Nguồn: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/40445

Note:

이유원 매화도 조선
李裕元 梅花圖 朝鮮
Yi Yu-won Painting of Plum Blossom Korea
Lí Dụ Nguyên Mai Hoa Đồ Triều Tiên

Viewing Plum Blossoms by Moonlight — Ma Yuan

Viewing Plum Blossoms by Moonlight by Ma Yuan
Viewing Plum Blossoms by Moonlight

Ma Yuan

Crafted as carefully as the regulated verse of a Tang dynasty quatrain, Ma Yuan’s Viewing Plum Blossoms by Moonlight is a visual poem evoking a complex sense of time, place, and mood. The browns and blacks in the trees and rocks contrast with the light grayish hues of the cliff and mountain to suggest the mist-filled, moonlit atmosphere of an early spring evening. The thatch roof of a pavilion identifies the place as a garden setting. The white-robed gentleman, framed by the dark angular forms of the landscape, perfectly counterbalances the moon in its setting of limitless space. Recalling a yin-yang cosmic diagram with its implication of positive within negative, light within dark, solid within void, the painting may be read as an emblem of man’s dual nature: tied to the physical world, man’s spirit is not contained by it but, like the plum, reaches upward to partake of the infinite.

Source: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/44638

Dưới Trăng Ngắm Mai
Mã Viễn

Được vẽ cẩn thận như một bài tứ tuyệt Đường thi âm luật chặt chẽ, bức tranh Dưới Trăng Ngắm Mai của Mã Viễn là một bài họa-thi gợi nên cảm xúc phức tạp về thời gian, nơi chốn, và tâm trạng. Màu nâu và đen của cây và đá tương phản với sắc màu xám nhạt của vách đá và núi gợi tả bầu không khí sáng trăng phủ đầy sương của một buổi tối chớm xuân. Mái tranh của ngôi đình xác định đó là khung cảnh một khu vườn. Một văn nhân áo trắng, đóng khung trong những hình dạng góc cạnh của cảnh quan, đối trọng tuyệt hảo với vầng trăng trong khoảng không gian vô hạn. Gợi lại một họa đồ thái cực âm-dương với ngầm ý trong âm có dương, trong tối có sáng, trong hư có thực, bức tranh như một biểu tượng về tính nhị nguyên của con người: bị cột chặt vào thế giới vật chất, nhưng tinh thần của con người lại không bị cầm tù trong đó, mà như cội mai, vươn lên để hoà vào với vô hạn.

Nguồn: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/44638

Note:
南宋 馬遠 月下賞梅圖 團扇

Southern Song Dynasty Ma Yuan Under the Moon Viewing Plum Blossoms Painting for a Round Fan

Nam Tống Mã Viễn Nguyệt Hạ Thưởng Mai Đồ Đoàn Phiến

Coastal Rocks

Cannon Beach, Oregon January 1, 2022
Cannon Beach, Oregon January 1, 2022


Coastal Rocks

Phat Vo

There is a joke among suiseki collectors: if you don’t know what to do with a stone, call it a coastal rock.

Recently Lisa and I have travelled a lot along US Pacific Coast, and we’re seen many coastal rocks, and they are beautiful. That makes me think a little harder about coastal rocks as a type of suiseki.

Categorically, iwagata-ishi or coastal rock stones suggest (1) a high, wind-swept rocky coastline, (2) tall, rough offshore rock, (3) steep cliff at end of a peninsula; white mineral deposits at base is prized, suggesting waves breaking against cliffs.[1]

We don’t have any coastal rock suiseki. If we have a good stone that resembles a coastal rock, we immediately think of a near mountain, or a distant mountain, or an island. The joke just imprints in our minds the unseriousness of coastal rock. And it’s sad. By ignoring this category totally we might have missed a very good coastal rock, because we might have considered it bad mountain stone, for example.

And it’s also sad that many people approach the art of suiseki because it seems easy. While it’s joyful to collect rocks for suiseki, we probably need to think of suiseki as a very serious business. After all, the ones who started the suiseki clubs in the USA thought so. Richard Ota: “It has been said in Japan that the full appreciation of Sui-seki can be acquired only after one has cultivated and acquired reverence and appreciation for ancient writings, objects d-arte, paintings and bonsai.” [2] Another master, Keiseki Hirotsu, said: “true suiseki admirers were the people who understood Zen Buddhism, but for some mysterious reason, became attracted to stones and eventually finding a peaceful world of stillness, nothingness, and tranquility in solitude, which is the world of Zen Buddhism.”[3]

Note:
[1] https://www.suiseki.com/classifications/japanese.html
[2] Richard Ota, Sui-seki
http://www.aisekikai.com/resources/june+newsletter+09.pdf
[3] Hideko Metaxas, Suiseki Philosophy
Golden Statements, November/December 2001

Included in Aiseki Kai January 2022 newsletter:
http://aisekikai.com/resources/January+newsletter+22.pdf

Rialto Beach, Washington September 8, 2020
Rialto Beach, Washington September 8, 2020

Đá ven bờ biển
Võ Tấn Phát

Có một câu nói đùa trong giới sưu tầm thủy thạch: nếu có hòn đá nào mà không biết loại gì, thì xếp cho nó vào loại đá ven bờ biển.

Gần đây Trang và tôi thường đi vân du dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của nước Mỹ, nhìn thấy nhiều tảng đá ven bờ biển, và những tảng đá này rất đẹp. Những cảnh đó làm tôi nghĩ kỹ lại quan niệm riêng của mình về loại đá bờ biển.

Theo cách xếp loại, thì iwagata-ishi (nham tích thạch) hay đá bờ biển gợi ra (1) núi đá cao sát biển hứng chịu nhiều phong ba, (2) tảng đá cao ngoài biển gần bờ, (3) dốc đá ở tận cùng của bán đảo; nếu có khoáng thạch trắng ở chân hòn đá thì càng quý, vì gợi ra hình ảnh sóng đánh vào vách đá.[1]

Chúng tôi không có hòn thủy thạch dạng đá bờ biển nào cả. Nếu chúng tôi tìm được hòn đá đẹp mà hơi giống đá ven biển, thì ngay lập tức chúng tôi xếp vào loại hoặc núi gần, hoặc núi xa, hoặc hải đảo. Câu nói đùa cợt đã in vào trí óc chúng tôi niềm tin rằng đá ven bờ biển không đáng để tâm. Và điều đó thật đáng tiếc. Khi hoàn toàn bỏ qua loại đá này, chúng tôi có lẽ đã bỏ qua một viên đá rất đẹp dạng đá bờ biển, chỉ vì chúng tôi nhìn thấy một viên đá hình núi xấu, chẳng hạn.

Và cũng đáng buồn khi nhiều người đến với môn thủy thạch vì dường như nó dễ dàng. Trong khi thủy thạch mang lại niềm vui, chúng ta có lẽ nên coi đó là một nghệ thuật nghiêm túc. Rốt cuộc thì những người khởi đầu các hội thủy thạch ở Mỹ đều nghĩ như vậy. Richard Ota: “Ở Nhật bản người ta cho rằng một người chỉ thấu hết cái đẹp của thuỷ thạch khi nào y trau dồi, thực lòng sùng mộ, và cảm nhận được thư pháp cổ nhân, tác phẩm mỹ thuật, tranh và cây cảnh.”[2] Một bậc thầy khác, Keiseki Hirotsu, đã nói rằng: “Một người yêu thủy thạch là một người thấu hiểu Phật Giáo Thiền Tông, nhưng vì một lý do bí ẩn nào đó, bị đá hút hồn rồi cuối cùng tìm thấy một thế giới bình an của thinh lặng, của cái không, của niềm an lạc trong cô tịch, vốn là thế giới của Phật Giáo Thiền Tông.”[3]

Chú thích:
[1] https://www.suiseki.com/classifications/japanese.html
[2] Richard Ota, Thuỷ Thạch
http://www.aisekikai.com/resources/june+newsletter+09.pdf
[3] Hideko Metaxas, Minh Triết của Thuỷ Thạch
Golden Statements, November/December 2001

Bài viết đăng ở nguyệt san của Ái Thạch Hội tháng 1 năm 2022:
http://aisekikai.com/resources/January+newsletter+22.pdf

“Klamath Forest” — Janet Roth

3657CAF2-CA8C-4541-8AD6-F4A9B0C94F22
“Klamath Forest”

Janet Roth

I found this stone at Black Butte Lake on one of our early trips together with Mas Nakajima. I was sitting down on the rocks and looking at the stones around me and saw this one. It was simply sitting upright on the surface next to me as if waiting to be found. I called Mas over to look, and he went very quiet. Finally, he said, “I’ve been looking my entire life for this stone.” His love for the stone shows in the daiza, which he carved to firmly and gently cradle it while ensuring its best qualities were revealed. This stone does not have big flashy features demanding one’s attention, but this beautiful, quiet suiseki constantly reveals new depths to me over the years. As Mas would say, “you never get tired.”

This stone is 30.5 x 12.7 x 13.3 cm (12 x 5 x 5.25 inches). Photo: Sam Edge

Source: https://www.vsana.org/som-2021-05

“Rừng Klamath”
Janet Roth
Võ Tấn Phát dịch

Tôi tìm thấy viên đá này ở Hồ Black Butte trong một chuyến đi tìm đá chung đầu tiên với Mas Nakajima. Tôi ngồi xuống bãi đá, nhìn đá xung quanh tôi, và thấy viên đá này. Nó nằm trên mặt đất gần tôi, khoe phía đẹp nhất ra, cứ như chờ đợi được tìm thấy. Tôi gọi Mas lại nhìn viên đá và anh bỗng im lặng hẳn. Cuối cùng Mas nói: “Cả đời tôi cố gắng tìm một viên đá thế này.” Lòng yêu thích viên đá này được Mas thể hiện ở cái đế gỗ, mà anh đã chạm khắc để cái đế ôm lấy viên đá vừa vững chãi vừa thanh thoát, trong khi phô bày ra những phẩm chất đẹp nhất của viên đá. Viên đá này không có những đặc điểm hào nhoáng khiến ta chú ý ngay lập tức, nhưng viên thủy thạch yên tĩnh, xinh đẹp này cứ tiếp tục bộc lộ độ sâu lắng mới mẻ cho tôi thấy qua năm tháng. Như Mas thường nói: “mình không bao giờ thấy chán.”

Kích thước hòn đá này 30.5 x 12.7 x 13.3 cm (12 x 5 x 5.25 inches). Ảnh: Sam Edge

California Aiseki Kai 32nd Annual Viewing Stone Virtual Show

California Aiseki Kai 32nd Annual Viewing Stone Virtual Show

Our stones

9212A507-03FF-4CA9-AF2D-1843CCF588FF
“Ume” (Plum Blossoms)
A River in the United States
WxHxD 6×4.5×4.5 in

3510DCA8-CED5-4287-820A-21D9290D521B
Doha
Merced River
WxHxD 13×4.5×4.5 in

AA078173-AF36-4D65-9A5D-8BC8214C41AD
Shelter
Yuha Desert
WxHxD 9.5×6.5×6 in

Link: https://www.huntington.org/events/viewing-stones-online-show-2021

California Ái Thạch Hội – Triển Lãm Đá Hằng Năm – Năm thứ 32

Tụi mình có 3 hòn đá trong cuộc triển lãm trên mạng năm nay

Mai Hoa
Một con sông ở Mỹ

Thổ Pha (núi trên bình nguyên)
Sông Merced

Chỗ trú mưa
Sa mạc Yuha

Liên kết: https://www.huntington.org/events/viewing-stones-online-show-2021

Pericles’ Funeral Oration – Thucydides

Bust of Pericles bearing the inscription "Pericles, son of Xanthippus, Athenian". Marble, Roman copy after a Greek original from c. 430 BC, Museo Pio-Clementino, Vatican Museums
Bust of Pericles bearing the inscription “Pericles, son of Xanthippus, Athenian”. Marble, Roman copy after a Greek original from c. 430 BC, Museo Pio-Clementino, Vatican Museums


Điếu văn của Pericles

Thucydides
Võ Tấn Phát dịch (từ bản dịch Anh ngữ của Benjamin Jowett)

Hầu hết những ai diễn thuyết ở nơi này trước tôi, đều tán dương nhà lập pháp đã thêm việc đọc điếu văn này vào tang lễ. Theo họ thì một vinh dự như thế là xứng đáng được trao trong tang lễ cho những người đã ngã xuống trên chiến trường. Nhưng tôi thà rằng, khi hành động của họ là dũng cảm, thì họ phải được vinh danh chỉ bằng hành động cụ thể, và với một danh dự như lễ quốc táng này, mà quý vị đang chứng kiến. Khi đó thanh danh của nhiều người sẽ không bị phụ thuộc vào tài năng hay thiếu tài năng hùng biện của một người, và đức hạnh của họ sẽ được tin tưởng không phụ thuộc vào diễn giả nói hay hoặc tồi. Bởi vì nói quá ít hay quá nhiều đều dở; và ngay cả nói vừa phải cũng không tạo ấn tượng là thật lòng. Bạn của người đã mất vốn biết sự thật có lẽ tin rằng lời của diễn giả không đầy đủ với kiến thức và mong muốn của anh ta; với người khác không biết nhiều, khi anh ta nghe những điều vượt quá khả năng mình, sẽ ganh tị và nghi ngờ có phóng đại. Nhân loại còn chịu được những lời tán dương những người khác chừng nào mà mỗi thính giả nghĩ rằng mình có thể làm được bằng như hoặc gần bằng thế, nhưng, khi diễn giả kể những điều vượt quá sức anh ta, lòng ganh tị sẽ nổi lên và anh ta bắt đầu hoài nghi. Tuy nhiên, vì cha ông chúng ta đã chấp thuận tập tục này, tôi phải tuân theo, và sẽ làm hết khả năng để làm vừa lòng những hoài vọng và tin tưởng của tất cả thính giả đang lắng nghe tôi.

Tôi sẽ nói về tổ tiên của chúng ta trước nhất, vì đó là chuyện đúng đắn và thích đáng lúc này, khi chúng ta khóc than người chết, chúng ta phải tưởng niệm họ. Không lúc nào họ không có mặt ở mảnh đất này, nơi mà bằng lòng dũng cảm họ đã trao truyền từ đời này sang đời khác, và chúng ta đón nhận từ họ một quốc gia tự do. Nhưng nếu họ đáng được tán dương, thì những người cha của chúng ta càng xứng đáng hơn nữa, vì họ đã thêm vào tài sản họ thừa kế, và sau nhiều đấu tranh đã trao cho chúng ta con cái của họ đế quốc vĩ đại này. Và chính chúng ta tập hợp ở đây hôm nay, hầu hết chúng ta đều tràn đầy sức sống, đang tiếp tục công cuộc phát triển nhiều hơn nữa, và trang bị đầy đủ cho thành quốc của chúng ta, để nó sẵn sàng cả trong hòa bình lẫn chiến tranh. Về những thành tích chiến trận từ đó những tài sản đất đai chiếm hữu được, hoặc về năng lực mà chúng ta hay cha chúng ta đã đẩy lùi cơn hồng thủy chiến tranh, với người Hy Lạp hay kẻ man di, tôi sẽ không kể ra; bởi vì câu chuyện sẽ dài và quen thuộc với quý vị. Nhưng trước khi tôi tán dương người đã mất, tôi muốn chỉ ra bằng những nguyên tắc hành động nào mà chúng ta đã trở nên hùng mạnh, và dưới những thể chế nào và qua lối sống thế nào mà đế quốc của chúng ta đã trở nên vĩ đại. Vì tôi tin những ý nghĩ đó là phù hợp trong dịp này, và đông đảo công dân và người ngoại quốc có thể được lợi ích khi lắng nghe chúng.

Mô hình chính quyền của chúng ta không cạnh tranh với các thể chế khác. Chính quyền của chúng ta không sao chép các lân bang, mà là một mẫu mực cho họ. Đúng là chúng ta được gọi là chế độ dân chủ, vì chính quyền nằm trong tay của đa số chứ không phải thiểu số. Nhưng trong khi luật pháp thì bình đẳng cho tất cả và như nhau trong những tranh chấp cá nhân, hiền tài xuất chúng cũng được công nhận; và khi một công dân bằng cách nào đó nổi bật lên, thì anh ta được ưu tiên vào công vụ, không phải như một đặc quyền, mà là tưởng thưởng cho tài năng. Nghèo khó cũng không phải là một rào cản, và một người có thể làm lợi cho quốc gia mình không cần biết xuất thân thế nào. Không ai bị loại trừ khỏi hoạt động xã hội, và trong đời sống riêng tư chúng ta không nghi kỵ nhau, cũng không giận giữ với láng giềng nếu y làm chuyện y thích; chúng ta không trừng mắt nhìn y mà, dù không có hại gì, cũng không dễ chịu lắm. Trong khi chúng ta không bị hạn chế trong đời sống riêng tư, tinh thần tôn trọng lan tỏa trong những hành xử công cộng của chúng ta; chúng ta được ngăn ngừa làm điều sai quấy do tôn kính nhà cầm quyền và luật pháp, đặc biệt là quan tâm đến những ban hành nhằm bảo vệ người bị thương tổn cũng như  những luật bất thành văn mà người vi phạm sẽ chịu chê trách của công luận.

Và chúng ta không quên lo liệu cho tinh thần mệt mỏi của chúng ta bằng nhiều thứ giải trí sau những lao động cực nhọc; chúng ta có những lễ hội và tế lễ thường kỳ trong cả năm; nhà cửa chúng ta đẹp và thanh nhã; và sự vui thích chúng ta ngày ngày dành cho những thứ này giúp xua đuổi ưu phiền. Vì sự vĩ đại của thành quốc chúng ta, thành quả trên khắp thế giới đến với chúng ta; vì thế chúng ta hưởng được của sản phẩm các quốc gia khác cũng dễ dàng như sản phẩm của chúng ta.

Và, thêm nữa, huấn luyện quân sự của chúng ta trong nhiều khía cạnh cũng tốt hơn những kẻ thù nghịch. Thành quốc chúng ta mở ngỏ ra thế giới, và chúng ta chưa hề trục xuất một ngoại nhân và cấm y nhìn hay học bất cứ thứ gì trừ bí mật quốc phòng. Chúng ta không dựa vào kiểm soát hay mưu mô, mà vào trái tim và bàn tay chúng ta. Và trong vấn đề giáo dục, trong khi bọn họ từ lúc trẻ đã luôn được tập luyện gian khổ để trở nên dũng mãnh, thì chúng ta sống nhàn nhã, và cũng sẵn lòng đối diện hiểm họa như họ.  Và đây là bằng chứng: những người Lacedaemonians đến lãnh thổ của Athen không chỉ riêng bọn họ, mà toàn bộ một liên minh; chúng ta tự mình tiến vào một nước láng giềng; và mặc dù đối thủ chúng ta bảo vệ quê nhà và chúng ta vào đất lạ, chúng ta hiếm khi gặp khó khăn trong việc chiến thắng họ. Những kẻ thù nghịch chưa hề hứng chịu sức mạnh đoàn kết của chúng ta, vì coi sóc thủy quân tốn một phần công sức của chúng ta, và trên lục địa chúng ta phải gởi quân ta khắp chốn. Nhưng bọn họ, nếu đối trận và chiến thắng một phần quân ta, thì tự đắc như đã chiến thắng tất cả chúng ta, còn khi thua trận thì vờ vĩnh là đã thua tất cả chúng ta vậy.

Như thế nếu chúng ta thích đối diện hiểm nguy với tâm thư thái mà không cần huấn luyện gian khổ, và với lòng dũng cảm có được do thói quen chứ không phải do luật pháp trói buộc, chẳng phải chúng ta vĩ đại hơn sao? Tuy chúng ta không biết trước nhọc nhằn, dù vậy, khi thời khắc đến, chúng ta có thể dũng cảm như những kẻ không bao giờ cho phép mình ngơi nghỉ; như thế thành quốc chúng ta đáng khâm phục cả trong hòa bình lẫn chiến tranh. Bởi vì chúng ta những kẻ yêu cái đẹp, và sức mạnh của chúng ta, theo suy nghĩ của chúng ta, không nằm trong sự cân nhắc và thảo luận, mà nằm trong kiến thức có được do thảo luận để sửa soạn hành động. Vì chúng ta có một năng lực suy tính đặc biệt trước khi chúng ta hành động, và năng lực hành động nữa, trong khi đó những kẻ khác can đảm do ngu dốt và do dự khi suy tư. Và chắc chắn đáng được kính trọng vì tinh thần dũng cảm nhất là những người, khi biết rõ cả sự đau khổ lẫn niềm vui cuộc sống, không chùn bước trước hiểm nguy. Trong khi làm việc tốt, lại nữa, chúng ta không giống bọn họ; chúng ta kết bạn bằng tặng quà, không phải nhận quà. Này, một người tặng quà là một người bạn vững chãi hơn, bởi vì anh ta thà rằng, bằng lòng tốt, nuôi sống một lòng biết ơn; nhưng người nhận quà thì tình cảm nguội lạnh hơn, bởi vì y biết khi đền đáp lại sự hào phóng của người kia y sẽ không nhận được lòng biết ơn mà chỉ đơn giản là trả lại một món nợ. Riêng chúng ta làm điều tốt cho láng giềng không phải do tính toán lời lãi, mà vào sự tin tưởng vào tự do và vào tinh thần ngay thẳng và vô úy. Tổng kết lại: tôi cho rằng Athens là ngôi trường của người Hy Lạp, và rằng chính mỗi người Athens dường như tự mình có năng lực thích nghi với những hoạt động khác nhau nhất với sự linh hoạt và uyển chuyển nhất. Đây không phải là lời nói qua loa và vu vơ, mà là chân lý và sự kiện có thật; và điều khẳng định này được chứng minh bởi chứng tích những phẩm chất này đã dựng xây thành quốc này. Vì trong những giờ phút thử thách một mình Athens nổi bật hơn hẳn giữa những quốc gia đương thời. Không kẻ thù nghịch nào phẫn nộ vì thua trận một thành quốc như thế; không có thuộc địa nào kêu ca rằng chủ nhân là không xứng đáng với nó. Và chúng ta chắc chắn không phải là không có nhân chứng; sức mạnh vĩ đại của chúng ta sẽ là kỳ tích cho thế hệ này và những thế hệ kế tiếp; chúng ta sẽ không cần những tán dương của Homer hay bất kỳ ai, mà những vần thơ của họ có thể làm đẹp lòng trong khoảng khắc này, dù cho sự thật trong đó không đáng tin cậy.  Vì chúng ta bắt buộc các quốc gia phải mở cửa với lòng dũng cảm của ta, và ở mọi nơi đều đặt những đài kỷ niệm ghi nhận tình bạn và sự  thù nghịch của chúng ta. Đấy là cái thành quốc vì nó những người này đã chiến đấu và hy sinh; họ không thể chịu nổi cái ý nghĩ rằng nó sẽ bị mất đi từ tay họ; và mỗi người còn sống trong số chúng ta sẽ vui vẻ hy sinh vì nó.

Tôi đã dừng lại để nói về sự vĩ đại của Athens vì tôi muốn cho quí vị thấy rằng chúng ta chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp hơn hẳn những ai không hưởng được những đặc ân này, và xác lập bằng chứng cớ rõ ràng công lao của những người hôm nay tôi đang tưởng nhớ. Lời tán dương cao quý nhất dành cho họ đã được nói ra. Vì trong khi tán dương thành quốc tôi đã tán dương họ, và những người như họ mà đức hạnh đã làm vinh quang thành quốc. Và có bao nhiêu người Hy Lạp được như họ, mà khi được đem lên bàn cân thì hành động cũng sánh ngang với danh tiếng của họ! Tôi tin rằng những hy sinh như họ là thước đo thực sự giá trị của một người; nó có thể là biểu lộ lần đầu tiên đức hạnh của họ, nhưng dù thế nào cũng là dấu ấn cuối cùng. Bởi vì ngay cả những ai có sai lầm trong những điều khác cũng có thể gỡ lại một cách chính đáng bằng lòng dũng cảm khi chiến đấu cho quốc gia; họ đã xóa đi cái xấu bằng cái tốt, và làm lợi cho quốc gia bằng việc công hơn là làm hại quốc gia bằng những việc tư. Không người nào trong họ bị yếu mềm do tài sản hay do dự khi từ bỏ hoan lạc đời sống; không ai trong số họ từ bỏ những ngày đau khổ với hy vọng, điều này là tự nhiên cho người nghèo khó, rằng một người dù nghèo, có thể một ngày nào đó trở nên giàu có. Nhưng, vì coi việc trừng phạt kẻ thù đáng hơn những điều này, và rằng họ không thể hy sinh vì một mục đích cao cả hơn, họ đã quyết định đem tính mạng để rửa nhục, và rời bỏ tất cả. Họ từ bỏ một cơ hội được hạnh phúc; nhưng đối diện với cái chết họ quyết tâm chỉ dựa vào chính mình. Và khi thời điểm đến họ thà kháng cự và chịu gian lao, còn hơn là bỏ chạy và giữ tính mạng; họ bỏ đi trước những lời nhục mạ, nhưng trên chiến trường họ đứng vững chãi, và trong thoáng chốc, ở đỉnh điểm của vận mệnh, họ biến mất, không phải khỏi nỗi sợ hãi, mà khỏi sự vinh quang của họ.

Đấy là kết cục của những người này; họ xứng đáng với Athens, và người sống không thể mong ước có một tinh thần anh dũng hơn, mặc dù họ có thể cầu mong cho một kết cuộc ít thảm khốc hơn. Giá trị của một tinh thần như thế không thể diễn đạt bằng lời. Bất kỳ ai cũng có thể kể dài dòng với quý vị về những ưu điểm của một cuộc phòng thủ anh hùng, và quý vị đã biết rồi. Nhưng thay vì lắng nghe anh ta nói gì, tôi muốn quý vị ngày ngày chú tâm vào sự vĩ đại của Athens, đến khi nào quý vị tràn ngập tình yêu nước; và khi quý vị được khắc sâu bằng hình ảnh vinh quang của thành quốc, hãy biết rằng đế quốc này được tạo lập bởi những người biết rõ trách nhiệm của mình và có can đảm thực hiện nó, những người mà trong giờ phút lâm trận, nỗi lo bị ô danh thường trực hiện diện, và họ, dù có lúc nào đó thất bại trong việc riêng, không cho phép đức hạnh của họ bị đánh mất khi đất nước nguy nan, mà tự nguyện cống đời mình như một món quà đẹp nhất cho đất nước. Những hy sinh mà tất cả họ đồng lòng hiến dâng, đã được đền đáp cho từng người một; bởi vì mỗi người trong số họ sẽ nhận được lời tán dương vĩnh viễn không bao giờ cũ, và ngôi mộ cao quý nhất, tôi không nói về nơi mà thân xác họ được chôn cất, mà là nơi mà thanh danh của họ sống mãi, và được vinh danh mãi mãi trong những dịp lễ bằng cả lời nói lẫn việc làm. Bởi vì cả thế gian này là ngôi mộ của những anh hùng; không những họ được tưởng nhớ bằng trụ cao và chữ khắc ở đất nước họ, mà trong những mảnh đất xa lạ cũng có những đài tưởng niệm bất thành văn cho họ, không phải trên đá mà trong tâm trí của người dân. Hãy noi gương họ, và, khi mà lòng dũng cảm đáng kính đó là để đạt được tự do và tự do là để đạt được hạnh phúc, đừng chùn bước trước hiểm họa chiến tranh. Những người thiếu may mắn, vốn có ít hy vọng đổi đời, sẽ có ít lý do để liều mạng bằng một người giàu có, mà nếu sống sót, thì có nhiều khả năng phải đối diện với đời sống khó khăn hơn, và với họ chỉ một lúc yếu lòng cũng mang đầy hệ lụy nguy hiểm. Vì với một người dũng cảm, hèn nhát và thảm họa mà đồng hành thì cay đắng hơn nhiều so với cái chết ập đến bất ngờ ngay vào lúc anh ta tràn đầy dũng khí và sục sôi hy vọng.

Vì vậy giờ đây tôi không đem lòng thương cảm các bậc cha mẹ của những người đã mất hiện đang ở nơi đây; tôi thà là ủy lạo họ. Quý vị biết rằng những người mất đã ra đi qua muôn vàn thăng trầm; và rằng họ có lẽ được coi như may mắn khi đạt được danh dự tột đỉnh, hoặc bằng cái chết trong danh dự của họ, hoặc bằng nỗi buồn đau đáng kính của quý vị, và cuộc tử sinh của họ đã được sắp đặt chính xác, để họ sống trong hạnh phúc và ra đi trong hạnh phúc. Tôi hiểu sự đau khổ quý vị đang gánh chịu, khi sự may mắn của người khác sẽ thường xuyên gợi lại niềm vui đã từng thắp sáng trái tim quý vị. Và nỗi đau buồn chính là niềm mong ước những phước lành đó, không phải những thứ mà một người chưa từng biết, mà những thứ từng là một phần trong đời sống của người đó cho đến khi bị tước đoạt mất. Một số trong quý vị đang ở độ tuổi hy vọng sẽ có những đứa con khác, và họ sẽ chịu đựng nỗi đau này dễ dàng hơn; không những những đứa con được sinh ra sau này sẽ làm họ quên đi những đứa con đã mất, mà thành quốc cũng được lợi ích gấp bội. Thành quốc sẽ không bị bỏ mặc, mà sẽ an toàn hơn. Bởi vì lời khuyên của một người không thể có trọng lượng và giá trị, nếu người đó không có con cái sẵn sàng hy sinh vì hiểm họa chung. Với những ai đã quá tuổi, tôi xin nói rằng: Hãy vui mừng vì quý vị đã hạnh phúc trong phần lớn cuộc đời quý vị; và hãy nghĩ rằng đời sống đau buồn còn lại của quý vị sẽ không còn lâu, và được an ủi bởi danh dự của những người đã khuất. Bởi vì lòng yêu chuộng danh dự sẽ trẻ mãi không già, và không phải sự giàu có, như người ta thường nói, mà danh dự mới là niềm vui của nam nhi khi già nua và vô dụng.

Với quý vị, con cái anh em của những người đã mất, tôi nghĩ rằng cố gắng noi gương họ là một việc khó khăn. Bởi vì mọi người đều tán dương những người đã mất, và dù đức hạnh của quý vị có ưu việt đến đâu, tôi không nghĩ có thể đạt được như họ, nói chi tới mức sánh bằng hay vượt qua họ; khi một người đã mất, danh dự và thiện chí cho người đó là thuần khiết (không giả tạo). Và nếu tôi phải nói về đức hạnh của phụ nữ cho những người sẽ là goá phụ, tôi xin tóm tắt bằng một lời khuyên ngắn gọn: với phụ nữ, không để lộ sự mềm yếu quá mức bình thường của nữ giới là danh dự lớn lao, và không để nam giới đàm tiếu dù là tốt hay xấu.

Tôi đã làm xong nhiệm vụ tưởng niệm người đã mất, tuân theo luật pháp, với những ngôn từ thích hợp. Món nợ đã được trả xong một phần bằng buổi lễ tưởng niệm này; bởi vì chúng ta nợ những người đã mất, và điều còn lại cần làm là con cái của họ sẽ được nuôi dạy bằng công quỹ đến khi chúng trưởng thành: đây là phần thưởng thực thụ mà, cùng với vòng nguyệt quế, thành quốc Athens đeo cho những nam nhi còn sống hay đã chết, sau mỗi chiến công. Bởi vì nơi nào mà đức hạnh được tưởng thưởng nhiều nhất, thì ở đó những công dân cao thượng nhất sẽ đăng ký để phục vụ quốc gia. Và giờ đây, quý vị đã tiếc thương thích đáng những người đã mất, quý vị có thể ra về.

Pericles's Funeral Oration by Philipp Foltz
Pericles’s Funeral Oration by Philipp Foltz

Nguồn: http://hrlibrary.umn.edu/education/thucydides.html

Có tham khảo các bản dịch khác:

https://en.m.wikisource.org/wiki/Pericles%27s_Funeral_Oration

No Man is an Island — John Donne

Donne’s portrait by Isaac Oliver
Donne’s portrait by Isaac Oliver

No Man is an Island
John Donne

No man is an island entire of itself; every man
is a piece of the continent, a part of the main;
if a clod be washed away by the sea, Europe
is the less, as well as if a promontory were, as
well as any manor of thy friends or of thine
own were; any man’s death diminishes me,
because I am involved in mankind.
And therefore never send to know for whom
the bell tolls; it tolls for thee.

Olde English Version

No man is an Iland, intire of itselfe; every man
is a peece of the Continent, a part of the maine;
if a Clod bee washed away by the Sea, Europe
is the lesse, as well as if a Promontorie were, as
well as if a Manor of thy friends or of thine
owne were; any mans death diminishes me,
because I am involved in Mankinde;
And therefore never send to know for whom
the bell tolls; It tolls for thee.

MEDITATION XVII
Devotions upon Emergent Occasions
John Donne

Source: https://web.cs.dal.ca/~johnston/poetry/island.html

John Donne (1572–1631) was an English poet, scholar, soldier, secretary, and cleric.

A portrait of Donne as a young man, c. 1595, in the National Portrait Gallery, London
A portrait of Donne as a young man, c. 1595, in the National Portrait Gallery, London

Không Ai Là Hải Đảo
John Donne
Võ Tấn Phát dịch

Không ai là hải đảo tự thân; mỗi người
là một phần của lục địa, một phần của tổng thể;
nếu một hòn đất bị biển cuốn trôi, Âu Châu
sẽ nhỏ hơn, cũng thế nếu một mỏm đất bị trôi đi, cũng
như thế nếu thái ấp của bằng hữu hay của chính
bản thân ngươi; cái chết của bất kỳ ai cũng làm ta bé lại,
bởi vì ta là một phần nhân loại.
Và vì vậy đừng bao giờ hỏi
chuông gọi hồn ai; chuông gọi hồn ngươi đó.

The Importance of Books

Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole
Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole


The Importance of Books

Around 130 million books have been published in the history of humanity; a heavy reader will at best get through 6,000 in a lifetime. Most of them won’t be much fun or very memorable. Books are like people; we meet many but fall in love very seldom. Perhaps only thirty books will ever truly mark us. They will be different for each of us, but the way in which they affect us will be similar.

The core – and perhaps unexpected – thing that books do for us is simplify. It sounds odd, because we think of literature as sophisticated. But there are powerful ways in which books organise, and clarify our concerns – and in this sense simplify.

Centrally, by telling a story a book is radically simpler than lived experience. The writer omits a huge amount that could have been added in (and in life always – by necessity – is there). In the plot, we move from one important moment directly to the next – whereas in life there are endless sub-plots that distract and confuse us. In a story, the key events of a marriage unfold across a few dozen pages: in life they are spread over many years and interleaved with hundreds of business meetings, holidays, hours spent watching television, chats with one’s parents, shopping trips and dentist’s appointments. The compressed logic of a plot corrects the chaos of existence: the links between events can be made much more obvious. We understand – finally – what is going on.

Writers often do a lot of explaining along the way. They frequently shed light on why a character is acting as they do; they reveal people’s secret thoughts and motives. The characters are much more clearly defined than the people we actually encounter. On the page, we meet purer villains, braver more resourceful heroes, people whose suffering is more obvious or whose virtues are more striking than would ever normally be the case. They – and their actions – provide us with simplified targets for our emotional lives. We can love or revile them, pity them or condemn them more neatly than we ever can our friends and acquaintances.

We need simplification because our minds get checkmated by the complexity of our lives. The writer, on rare but hugely significant occasions, puts into words feelings that had long eluded us, they know us better than we know ourselves. They seem to be narrating our own stories, but with a clarity we could never achieve.

Literature corrects our native inarticulacy. So often we feel lost for words; we’re impressed by the sight of a bird wheeling in the dusk sky; we’re aware of a particular atmosphere at dawn, we love someone’s slightly wild but sympathetic manner. We struggle to verbalise our feelings; we may end up remarking: ‘that’s so nice’. Our feelings seem too complex, subtle, vague and elusive for us to be able to spell out. The ideal writer homes in on a few striking things: the angle of the wing; the slow movement of the largest branch of a tree; the angle of the mouth in a smile. Simplification doesn’t betray the nuance of life, it renders life more visible.

The great writers build bridges to people we might otherwise have dismissed as unfeasibly strange or unsympathetic. They cut through to the common core of experience. By selection and emphasis, they reveal the important things we share. They show us where to look.

They help us to feel. Often we want to be good, we want to care, we want to feel warmly and tenderly – but can’t. It seems there is no suitable receptacle in our ordinary lives into which our emotions can vent themselves. Our relationships are too compromised and fraught. It can feel too risky to be very nice to someone who might not reciprocate. So we don’t do much feeling; we freeze over. But then – in the pages of a story – we meet someone, perhaps she is very beautiful, tender, sensitive, young and dying; and we weep for her and all the cruelty and injustice of the world. And we come away, not devastated, but refreshed. Our emotional muscles are exercised and their strength rendered newly available for our lives.

Not all books necessarily contain the simplifications we happen to need. We are often not in the right place to make use of the knowledge a book has to offer. The task of linking the right book to the right person at the right time hasn’t yet received the attention it deserves: newspapers and friends recommend books to us because they work for them, without quite thinking through why they might also work for us. But when we happen to come across the ideal book for us we are presented with an extraordinarily clearer, more lucid, better organised account of our own concerns and experiences: for a time at least our minds become less clouded and our hearts become more accurately sensitive. Through books’ benign simplification, we become a little better at being who we always really were.

Source: https://www.theschooloflife.com/thebookoflife/the-importance-of-books/

Suiseki: Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole

Source: https://suisekiart.com/2017/01/02/lady-murasaki/

From Wikipedia:
Murasaki Shikibu (紫 式部, English: “Lady Murasaki”; c. 973 or 978 – c. 1014 or 1031) was a Japanese novelist, poet and lady-in-waiting at the Imperial court in the Heian period. She is best known as the author of The Tale of Genji, widely considered to be one of the world’s first novels, written in Japanese between about 1000 and 1012.

Tosa Mitsuoki illustration of Lady Murasaki writing.  c. late 17th C.
Tosa Mitsuoki illustration of Lady Murasaki writing. c. late 17th C.

Tầm quan trọng của sách
Võ Tấn Phát dịch

Khoảng 130 triệu đầu sách được xuất bản trong lịch sử nhân loại; một độc giả chuyên cần nhất cùng lắm chỉ có thể đọc khoảng 6000 cuốn trong đời. Phần lớn sách không thú vị hay đáng nhớ lắm. Sách cũng như người; ta gặp nhiều nhưng hiếm khi phải lòng ai. Có lẽ chỉ khoảng 30 cuốn sách thực sự ghi dấu ấn lên ta. Chúng sẽ khác nhau cho mỗi người, nhưng cái cách chúng ảnh hưởng lên chúng ta thì giống nhau.

Điều cốt lõi — và có lẽ không ngờ — mà sách đã làm cho ta là đơn giản hoá. Nghe thì kỳ quặc, vì ta nghĩ văn chương vốn phức tạp. Nhưng có những phương cách mà sách hệ thống lại, và làm rõ ràng hơn những điều ta quan tâm — và ở ý nghĩa này sách đơn giản hoá.

Điều chính yếu là, bằng cách kể một câu chuyện, một cuốn sách đã đơn giản hơn rất nhiều so với kinh nghiệm sống. Nhà văn đã bỏ đi một số lượng lớn những thứ có thể thêm vào (và trong đời thực — thì cần thiết — phải hiện diện ở đó). Trong cốt truyện, ta nhảy từ một khoảnh khắc quan trọng này sang khoảnh khắc kế tiếp — trong khi ngoài đời thì vô tận những phân đoạn của câu chuyện đó sẽ làm ta mất tập trung và rối trí. Trong một câu chuyện, những sự kiện quan trọng của một cuộc hôn nhân hiển lộ qua vài chục trang giấy: trong đời thực thì nó sẽ trải qua nhiều năm trời và đan xen với hàng trăm cuộc họp hành, những ngày lễ lạc, hàng giờ liền coi truyền hình, những lần trò chuyện với cha mẹ, mua sắm, và đến gặp nha sĩ. Cái trình tự hợp lý đơn giản hoá đó của cốt chuyện sẽ điều chỉnh lại sự hỗn loạn của đời sống: các mối liên hệ giữa các sự kiện trở nên rõ ràng hơn. Cuối cùng ta hiểu được điều gì đang diễn ra.

Nhà văn thường giải thích rất nhiều theo mạch chuyện. Họ thường làm sáng tỏ lý do tại sao một nhân vật lại hành động như vậy; họ bóc trần những suy nghĩ và những động cơ bí mật của con người. Những nhân vật trong sách như vậy được xác lập rõ ràng hơn nhiều so với những người mà ta thực sư gặp gỡ. Trên trang sách, ta gặp những kẻ thuần ác, những anh hùng dũng cảm hơn và tháo vát hơn, những con người mà đau khổ thì hiển nhiên hơn và đức hạnh thì nổi bật hơn so với trong đời thường. Họ — cùng với những hành động của họ — là những mục tiêu được đơn giản hoá cho đời sống tình cảm của ta hướng tới. Ta có thể yêu hay ghét, thương hại hay lên án họ dễ dàng hơn là làm thế với bạn bè hay người quen.

Ta cần đơn giản hoá bởi vì trí óc ta bị kiểm soát bởi rối rắm của cuộc đời. Nhà văn, trong những dịp hiếm hoi nhưng cực kỳ quan trọng, viết ra những cảm xúc lâu nay cứ lẩn tránh khỏi trí óc ta; các nhà văn đó biết rõ về ta hơn ta biết về chính mình. Họ dường như đang kể chuyện đời ta, nhưng với sự sáng sủa ta không thể nào đạt được.

Văn chương điều chỉnh lại sự thiếu khả năng diễn đạt tự bẩm sinh của ta. Rất nhiều khi ta cảm thấy không đủ chữ; ta có ấn tượng mạnh khi thấy chim bay lượn trên nền trời hoàng hôn; ta cảm được bầu không khí đặc biệt lúc bình minh; ta yêu mến phong thái hơi hoang dã nhưng đầy cảm thông của ai đó. Nhưng chúng ta rất khó khăn khi muốn diễn đạt những cảm xúc đó; rồi cuối cùng chỉ có thể nói: ‘tuyệt quá’. Cảm xúc của ta dường như quá phức tạp, quá vi tế, quá mơ hồ, và khó nắm bắt nên ta không thể diễn đạt thành lời. Một nhà văn lý tưởng sẽ tập trung vào những đặc điểm nổi bật: độ nghiêng của đôi cánh; chuyển động chậm chạp của cành cây lớn nhất; khoé miệng cười. Đơn giản hoá không hẳn phản bội cái sắc thái muôn vẻ của đời sống, mà nó làm đời sống rõ ràng hơn.

Những nhà văn vĩ đại xây những cây cầu tới những con người mà ta dễ bỏ qua như những kẻ kỳ cục hay khó thương. Họ cắt ngang qua cái cốt lõi kinh nghiệm chung của nhân loại. Bằng cách lựa chọn và nhấn mạnh, họ bóc trần ra những điều quan trọng chúng ta đều sở hữu. Họ cho ta biết phải nhìn vào đâu.

Họ giúp ta cảm nhận. Thường thì ta muốn là người thiện, ta muốn quan tâm tới tha nhân, ta muốn cảm thấy ấm áp và dịu dàng — nhưng ta không thể. Dường như không có những bầu chứa thích hợp trong đời sống bình thường của ta để trút hết tâm sự vào đó. Các mối quan hệ của ta thì dễ tổn thương và đầy bất trắc. Ta có thể cảm thấy quá mạo hiểm khi tỏ lòng tốt với ai đó để rồi không được đáp lại. Vì thế ta không thực hành cảm xúc; ta đóng băng. Nhưng rồi, trong những trang sách, ta gặp một ai đó, có lẽ cô rất xinh đẹp, dịu dàng, nhạy cảm, trẻ và sắp chết; và ta khóc cho cô gái và tất cả những tàn ác bất công của thế gian này. Và ta trải qua, không bị tổn hại, mà được làm mới. Những cơ bắp cảm xúc của ta được tập luyện và năng lượng cảm xúc hồi phục trong đời ta.

Không phải sách nào cũng nhất thiết chứa đựng những đơn giản hoá ta cần. Ta thường không ở đúng chỗ để tận dụng kiến thức mà một cuốn sách cung cấp. Việc liên kết một cuốn sách thích hợp cho đúng người vào đúng thời điểm vẫn chưa nhận được sự quan tâm xứng đáng: báo chí và bạn bè giới thiệu sách cho ta vì chúng hợp với họ, mà không nghĩ kỹ làm sao chúng cũng hợp với ta. Nhưng khi ta tình cờ bắt gặp một cuốn sách lý tưởng cho mình, ta được trình ra một tập hợp những quan tâm và kinh nghiệm của chính ta, cực kỳ rõ ràng, sáng sủa hơn, được hệ thống tốt hơn: ít ra vào lúc đó trí ta ít vẩn đục hơn và tim ta nhạy cảm hơn. Thông qua sự đơn giản hoá vô hại của sách, ta trở nên tốt hơn chút nữa trong khi trở thành chính con người thật của mình.

Thủy thạch: Lady Murasaki; đá sông Eel, California; đá do Mas Nakajima sưu tầm năm 2015 và làm đế bằng gỗ walnut cùng năm. Tặng phẩm cho Viện Bảo tàng Nghệ thuật Oakland ở California. Hình chụp của Trang Vo-Le.

Wikipedia:
Murasaki Shikibu (Kana: むらさきしきぶ; Kanji: 紫式部, Hán Việt: Tử Thức Bộ; 978—1019?) là biệt hiệu của một nữ văn sĩ cung đình thời Heian Nhật Bản, tác giả của cuốn tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, kiệt tác Truyện kể Genji (Nguyên Thị Vật Ngữ), được viết bằng tiếng Nhật vào khoảng năm 1000 đến 1012.