In Praise of Shadows — Junichiro Tanizaki

Japanese Room
Japanese Room
(From In Praise of Shadows)

Junichiro Tanizaki

A Japanese room might be likened to an inkwash painting, the paper-paneled shoji being the expanse where the ink is thinnest, and the alcove where it is the darkest. Whenever I see the alcove of a tastefully built Japanese room, I marvel at our comprehension of the secrets of shadows, our sensitive use of shadow and light. For the beauty of the alcove is not the work of some clever device. An empty space is marked off with plain wood and plain walls, so that the light drawn into its forms dim shadows within emptiness. There is nothing more. And yet, when we gaze into the darkness that gathers behind the crossbeam, around the flower vase, beneath the shelves, though we know perfectly well it is mere shadow, we are overcome with the feeling that in this small corner of the atmosphere there reigns complete and utter silence; that here in the darkness immutable tranquility holds sway. The “mysterious Orient” of which Westerners speak probably refers to the uncanny silence of these dark places. And even we as children would feel an inexpressible chill as we peered into the depths of an alcove to which the sunlight had never penetrated. Where lies the key to this mystery? Ultimately it is the magic of shadows. Were the shadows to be banished from its corners, the alcove would in that instant revert to mere void.

This was the genius of our ancestors, that by cutting off the light from this empty space they imparted to the world of shadows that formed there a quality of mystery and depth superior to that of any wall painting or ornament. The technique seems simple, but was by no means so simply achieved. We can imagine with little difficulty what extraordinary pains were taken with each invisible detail—the placement of the window in the shelving recess, the depth of the crossbeam, the height of the threshold. But for me the most exquisite touch is the pale white glow of the shoji in the sturdy bay; I need only pause before it and I forget the passage of time.

The study bay, as the name suggests, was originally a projecting window built to provide a place for reading. Over the years it came to be regarded as no more than a source of light for the alcove; but most often it serves not so much to illuminate the alcove as to soften the sidelong rays from without, to filter them through paper panels. There is a cold and desolate tinge to the light by the time it reaches these panels. The little sunlight from the garden that manages to make its way beneath the eaves and through the corridors has by then lost its power to illuminate, seems drained of the complexion of life. It can do no more than accentuate the whiteness of the paper. I sometimes linger before these panels and study the surface of the paper, bright, but giving no impression of brilliance.

In temple architecture the main room stands at a considerable distance from the garden; so dilute is the light there that no matter what the season, on fair days or cloudy, morning, midday, or evening, the pale, white glow scarcely varies. And the shadows at the interstices of the ribs seem strangely immobile, as if dust collected in the corners had become a part of the paper itself. I blink in uncertainty at this dreamlike luminescence, feeling as though some misty film were blunting my vision. The light from the pale white paper, powerless to dispel the heavy darkness of the alcove, is instead repelled by the darkness, creating a world of confusion where dark and light are indistinguishable. Have not you yourselves sensed a difference in the light that suffuses such a room, a rare tranquility not found in ordinary light? Have you never felt a sort of fear in the face of the ageless, a fear that in that room you might lose all consciousness of the passage of time, that untold years might pass and upon emerging you should find you had grown old and gray?

Source: http://pdf-objects.com/files/In-Praise-of-Shadows-Junichiro-Tanizaki.pdf

Japanese Study Bay
Japanese Study Bay


Phòng khách kiểu Nhật
(Trích Ca Ngợi Bóng Âm)

Junichiro Tanizaki
Hà Vũ Trọng dịch

Một căn phòng khách (zashiki) kiểu Nhật có thể ví như một bức tranh thuỷ mặc, cửa giấy kéo (shoji) là chỗ mực nhạt nhất, còn gian bích khám (tokonoma) là chỗ mực đậm nhất. Mỗi lần nhìn thấy cái bích khám rất trang nhã trong căn phòng Nhật, tôi cảm phục cách người Nhật thấu hiểu được sự bí ẩn của bóng âm và cách họ sử dụng bóng âm và ánh sáng một cách nhạy cảm. Vì vẻ đẹp của bích khám không phải là công việc của thiết bị thông minh nào đó. Một không gian trống và lõm được bao lại bằng gỗ thô và vách tường mộc mạc để cho ánh sáng hút vào tạo nên những cái bóng mờ mờ bên trong khoảng không. Không còn gì nữa. Thế nhưng, khi nhìn vào bóng tối trầm tụ sau xà ngang, quanh bình hoa, dưới cái giá, dù chúng ta biết rõ đấy chỉ là những cái bóng, nhưng cảm giác khuất phục trong cái góc nhỏ này một bầu không khí ngự trị, một sự trầm mặc hoàn toàn; ở đây trong cái bóng tối là sự tĩnh tại bất biến đang thống trị. “Phương Đông huyền bí” là cách gọi của người phương Tây có lẽ để ám chỉ sự tịch mịch của những nơi u tối này. Và ngay cả chúng ta thuở bé cũng từng cảm thấy ớn lạnh khó tả khi nhìn vào những chiều sâu của cái khám mà ánh mặt trời chẳng bao giờ rọi tới. Chìa khoá của sự huyền bí này nằm ở đâu? Rút cuộc đó chính là phép thuật của bóng âm. Nếu như những bóng âm này bị xua ra khỏi mọi ngóc ngách thì gian bích khám này lập tức trở lại thành khoảng trống đơn thuần.

Thiên tài của tổ tiên chúng ta ở chỗ, qua việc cắt đứt ánh sáng ra khỏi cái không gian trống này họ đã truyền đó vào một thế giới của những bóng âm mang phong vị bí ẩn và chiều sâu vượt trội so với bất kì bức tranh tường hoặc sự trang trí nào. Đây có vẻ là một kĩ xảo giản dị nhưng không dễ dàng đạt tới. Chúng ta không khó hình dung ra những lao tâm khổ tứ với từng chi tiết vô hình, như việc lắp đặt song cửa trong hốc khám, chiều sâu của rầm ngang, độ cao của ngưỡng. Tuy nhiên đối với tôi, vẻ tinh tế nhất lại là vầng sáng trắng nhạt của bình phong giấy ở gian thư hiên (shoin) mà tôi chỉ việc dừng lại trước nó và rồi quên đi dòng thời gian trôi qua.

Thư hiên, như tên gọi, nguyên là một song cửa được xây nhô ra dành làm chỗ đọc sách. Tuy qua nhiều năm nó được coi là nguồn sáng dành cho gian bích khám, nhưng nó cũng lại thường xuyên giúp làm dịu và lọc những tia nắng chiếu xiên từ bên ngoài qua lớp bình phong giấy hơn là để thắp sáng bích khám. Ánh sáng khi chạm tới những tấm bình phong này thì đượm vẻ lạnh lẽo và hoang vắng. Một chút nắng từ ngoài vườn tìm cách len vào dưới mái hiên và xuyên qua hành lang nhưng rồi mất đi độ sáng và gần như kiệt quệ sức sống và chỉ làm nổi thêm màu trắng bệch của giấy. Đôi khi tôi nấn ná trước những bình phong này để ý xem bề mặt của giấy và có ấn tượng nó sáng chứ không chói.

Trong kiến trúc chùa, gian đại sảnh cách khu vườn một khoảng cách đáng kể; ánh sáng ở đó thật mờ nhạt bất kể mùa nào, vào ngày đẹp trời hay u ám, sáng, trưa, hay chiều tối, thứ ánh sáng mờ nhạt ấy hầu như không thay đổi. Và bóng râm trên những gờ bình phong có vẻ bất động kì lạ, như thể bụi bậm ở các góc đã trở thành một phần của giấy. Tôi chớp mắt mà không dám chắc ánh phát quang như mộng huyễn này, cảm thấy như một lớp sương bạc làm mờ thị giác. Ánh sáng từ giấy trắng mờ không đủ sức xua tan bóng tối dày của gian bích khám, thay vào đó lại bị bóng tối đẩy lùi, tạo nên một thế giới mông lung, nơi mà sáng tối không thể phân biệt được. Bạn có cảm nhận được sự khác biệt của thứ ánh sáng khuếch tán trong gian phòng ấy một sự thanh tịnh hiếm hoi không thể tìm thấy trong thứ ánh sáng bình thường không? Bạn đã có bao giờ cảm giác giống như sợ hãi khi đối mặt với sự vĩnh cửu, nỗi sợ rằng trong căn phòng đó bạn có thể mất hết ý thức về dòng thời gian trôi qua, những năm tháng không kể xiết trôi qua, để rồi khi bước ra ngoài bạn thấy mình đã già nua tóc bạc?

Nguyên tác: 陰翳礼讃 (In’ei reisan/Âm ế lễ tán), tuỳ bút, 1933-4. Tác giả: Jun’ichiro Tanizaki 潤一郎 谷崎 (1886-1965).

Nguồn: https://havutrongarchives.blogspot.com/2021/02/ca-ngoi-bong-am-tuy-but-mi-hoc-ve-van.html?m=1

In Praise of Shadows

The Inner Bamboo — Su Shi

Wen Tong, Hanging scroll, ink on silk, National Palace Museum, Taipei
Wen Tong, Hanging scroll, ink on silk, National Palace Museum, Taipei

The Inner Bamboo
Su Shi
(Translation into English by Lin Yutang?)

When a young bamboo sprouts, it is only an inch long, but the joints and leaves are already latent in it. All nature grows this way, whether it be cicadas and snakes, or bamboos that shoot up a hundred feet high. Nowadays the artists construct a bamboo, joint by joint and leaf by leaf. Where is the bamboo? Therefore in painting bamboos, one must have bamboo formed in one’s breast. At the time of painting, one concentrates and sees what one wants to paint. Immediately one follows the idea, handles one’s brush to pursue the image just seen, like a hawk swooping down on a rabbit. With a moment’s hesitation, it would be lost. This is what the artist Yuke taught me. I understood what he meant, but could not carry it out. That is because my hand refused to obey me, through lack of practice. There are things with which you are vaguely familiar; you seem to know it, but when you want to paint it, you are at a loss. This is true not only of painting bamboo. My brother Zeyou cannot paint; he merely understands the idea. I understand not only the idea, but also have learned the technique.

I have been of the opinion that men, animals, houses, and furniture have a constant form. On the other hand, mountains and rocks, bamboos and trees, ripples, mists, and clouds have no constant form, but have a constant inner nature. Anybody can detect inaccuracies in form, but even art specialists are often unaware of errors in the inner nature of things. Therefore some artists find it easier to deceive the public and make a name for themselves by painting objects without constant forms. However, when a mistake is made with regard to form, the mistake is confined to that particular object, but when a mistake is made in the inner nature of things, the whole is spoiled. There are plenty of craftsmen who can copy all the details of form, but the inner nature can be understood only by the highest spirits. Yuke’s paintings of bamboos, rocks, and dried-up trees may be said to have truly seized their inner nature. He understands how these things live and die, how they twist and turn, are blocked and compressed, and how they prosper and thrive in freedom. The roots, stalks, joints, and leaves go through infinite variations, never alike, and yet always appropriate; they are true to nature and satisfying to the human spirit. These are records of the inspirations of a great soul.

Note:
Su Shi (traditional Chinese: 蘇軾; simplified Chinese: 苏轼; 1037–1101), courtesy name Zizhan (Chinese: 子瞻), art name Dongpo (Chinese: 東坡)

Wen Tong (文同, 1018-1079), courtesy name Yuke (與可)

Hanging scroll, ink on silk, 131.6 x 105.4 cm, National Palace Museum, Taipei

Source: https://www.laphamsquarterly.org/arts-letters/inner-bamboo


Trúc mọc trong lòng
Tô Đông Pha [1]

Nguyễn Đình Đăng dịch từ Lin Yutang, The Chinese Theory of Art, có tham khảo bản gốc Trung văn của Tô Đông Pha (苏轼 文与可画筼筜谷偃竹记: Tô Thức – Truyện Văn Dự Khả vẽ trúc cong ở Vân Dương Cốc).

Khi măng trúc nhú lên, nó chỉ dài một thốn [2], nhưng trong nó đã tiềm ẩn các đốt và lá. Toàn bộ thiên nhiên trưởng thành như vậy, cho dù đó là những con ve hay con rắn, hay những cây tre cao vọt tới mười tầm [3]. Ngày nay các hoạ sỹ dựng hình cây trúc từng đốt một, vẽ từng chiếc lá. Trúc ở đâu? Vì thế, khi vẽ trúc phải có trúc mọc trong lòng đã [4]; lúc vẽ, tập trung để nhìn thấy cái mình muốn vẽ. Ngay lập tức dõi theo ý tưởng, cầm lấy bút để vẽ theo hình tượng vừa nhìn thấy, như con chim ưng lao xuống con thỏ. Chần chừ một chút là mất. Đó là điều Dự Khả [5] đã dạy ta. Ta hiểu ý ông, nhưng không sao làm theo được. Đó là bởi tay không làm được như ý muốn do thiếu luyện tập. Có những thứ mang máng quen, tưởng biết rồi, nhưng khi muốn vẽ thì không nổi. Điều này đúng không riêng gì với trúc. Em trai ta, Tô Triệt (蘇轍) không biết vẽ; cậu ấy chỉ hiểu ý tưởng. Ta không chỉ hiểu ý tưởng mà còn học được cả kỹ thuật nữa.

Khi Dự Khả bắt đầu vẽ trúc, ông không hề tỏ ra tự phụ, nhưng rồi người khắp nơi mang lụa kéo đến bu trước cửa nhà ông xin tranh. Dự Khả rất khó chịu, vứt lụa xuống đất, giận dữ nói: “Ta sẽ cắt hết lụa ra làm tất chân.” Khi Dự Khả trở về Dương Châu (nay là Dương Huyền ở Thiểm Tây) còn ta ở Tô Châu, ông viết thư cho ta: “Dạo này tôi có nói với các học giả rằng trường phái vẽ trúc của tôi đã chuyển về Tô Châu rồi, và các sưu tập gia phải về đó mà tìm. Bây giờ tôi chắc tất cả nguyên liệu làm tất chân sẽ đổ về nhà ông.” Ông viết thêm hai dòng tái bút rằng ông muốn vẽ một cây trúc cao vạn thước trên một tấm lụa Nga Khê (鹅溪). Ta nói với ông rằng để vẽ cây trúc như thế thì phải cần hai trăm năm mươi thất lụa [6], và ta biết ông đã chán vẽ rồi mà chỉ muốn lấy lụa thôi. Dự Khả không đáp lại được mà chỉ nói rằng ta nói vớ vẩn và dù sao thì cũng chẳng có trúc nào cao vạn thước cả. Ta trả lời ông bằng hai dòng từ một bài thơ:

“Thế gian diệc hữu thiên tầm trúc,
Nguyệt lạc đình không ảnh hứa trường.”

(世间亦有千寻竹,
月落庭空影許長)

(Tạm dịch:
“Thế gian có trúc cao vạn thước:
Trăng rọi trên sân đổ bóng dài.”)

(Nghĩa là: “Có trúc cao vạn thước nếu nhìn vào bóng nó dưới ánh trăng in trên mặt đất.”)

Dự Khả cười và nói: “Họ Tô bao giờ cãi cũng giỏi, nhưng nếu có hai trăm năm mươi thước lụa, tôi sẽ mua một trang trại ở quê để dưỡng già.” Ông tặng ta bức tranh này vẽ trúc ở Vân Dương Cốc (篔簹谷) và nói với ta rằng chúng chỉ cao vài thước, nhưng trông như cả vạn thước…

Dự Khả qua đời ngày 20 tháng Giêng năm 1079. Mùng 7 tháng Bảy năm đó ta mang bộ sưu tập tranh của mình ở Hồ Châu (湖州) ra phơi. Bỗng dưng thấy lại bức tranh này, ta bật khóc.

Dịch xong ngày Chủ Nhật 1. 12. 2019.
__________
Chú giải của người dịch:
[1] Tô Thức (蘇軾), bút danh Đông Pha (東坡) (1036 – 1101) – hoạ sỹ, văn sỹ, thi sỹ và chính trị gia đời Tống, được coi là một trong những nhân vật hoàn hảo nhất trong văn học cổ điển Trung Quốc.
[2] 1 thốn (寸) bằng 33.33 mm.
[3] 1 tầm (尋) bằng 8 xích (尺), hay 8 thước Trung Quốc. Một thước bằng 10 thốn, tức 33.33 cm. Như vậy 10 tầm bằng 80 thước, tức 26.7 m.
[4] Câu “Trúc mọc trong lòng” (胸有成竹: hung hữu thành trúc) nay đã trở thành một thành ngữ, có nghĩa phải làm chủ hoàn toàn một tình huống, hay có kế hoạch sẵn trong đầu để đối mặt với khủng hoảng.
[5] Văn Đồng (文同), bút danh Dự Khả (與可) (1019 – 1079) – hoạ sỹ Bắc Tống, nổi danh vì vẽ trúc, một trong những điển hình của văn nhân họa (文人画) hay sỹ nhân hoạ (士人画), tức hội hoạ của các học giả, lý tưởng hóa tính tự phát và vẽ không cần tiền thù lao. Văn Dự Khả và Tô Đông Pha là hai anh em họ bên ngoại.
[6] 1 thất (匹) bằng 4 trượng 丈, tức 40 thước (13.3 m).

Dự Khả, Mặc trúc (Trúc vẽ bằng mực) (t.k. XI), mực nho trên lụa, 131.6 x 105.4 cm. Bảo tàng Cố Cung Đài Loan.

____________
© Nguyễn Đình Đăng, 2019 – Người dịch giữ bản quyền bản dịch tiếng Việt. Bạn đọc có thể lưu giữ bản dịch này để sử dụng cho cá nhân mình và chia sẻ nguyên văn và miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép, hiệu đính lại bản dịch này, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, hay nhằm mục đích thương mại (kể cả tại các trang blog, thư viện điện tử trên internet mà để đọc được hay tải xuống người đọc phải trả tiền để mở tài khoản) v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của người dịch.

Nguồn: https://m.facebook.com/nt/screen/?params=%7B%22note_id%22%3A3668107976546249%7D&path=%2Fnotes%2Fnote%2F&_rdr

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3180960495496162&id=100007467282612&m_entstream_source=timeline

“One, Two, Three” by Ryokan — Kazuaki Tanahashi

[一二三] ONE, TWO, THREE by Ryokan
[一二三] ONE, TWO, THREE by Ryokan

“One, Two, Three” by Ryokan
Kazuaki Tanahashi

A peasant farmer once said to Ryokan, “Your writings are difficult to read. Can you write something even I can read?” Ryokan wrote “One, two, three,” and said, “I hope you can read this.”

Generally, one is represented by a single horizontal line, while two and three are depicted with two and three horizontal lines. Indeed, there are no easier symbols than these in East Asian ideography. The villager who was given this calligraphy might have thought this was Ryokan’s nonsense or joke. But in the Zen tradition, numbers sometimes indicate reality itself: words beyond words.

When the ideographic writing system was created in China about four thousand years ago, these numbers were drawn on soil or carved on wood or animal bones with straight geometric lines. After the brush was invented about two thousand years later, calligraphers developed the aesthetics of asymmetry within each stroke and among elements of each ideograph. This piece by Ryokan, written in a semicursive script, follows this tradition.

The first horizontal line goes up, which is common in Chinese-style calligraphy, but with atypical steepness. Following the initial press down, the brush was gradually pulled up, making its trace finer. It arched gracefully, then slightly pushed down to create a consistent width on its latter half. At the end of the line, the brush was lightly pressed down and swept off toward the next symbol.

In two, the line above is typically shorter than the line below. But in this case, the line above is excessively short—almost a dot—subtly curving up and sweeping off again. The second stroke starts pointed, forming a circular line followed by a most subtle curving-down line.

The first two strokes of three are two diagonal lines of different angles connected with a ligature. Preceded by an invisible ligature, the last line of this character is straight. On the final column he wrote: “Shaku Ryokan sho” (Written by monk Ryokan).

There is ample space between lines and characters. Ryokan created a style of calligraphy where even extra thin lines with few strokes can hold a large amount of space.

Source: Kazuaki Tanahashi, Sky Above, Great Wind

Picture and text source: https://terebess.hu/zen/mesterek/Ryokan.html

Thư pháp “Nhất, Nhị, Tam” của Ryokan
Kazuaki Tanahashi
Võ Tấn Phát dịch

Có lần một nông dân nói với Ryokan: “Chữ viết của ngài khó đọc quá. Ngài có thể viết cái gì để tôi có thể đọc được không?” Ryokan viết “Nhất, nhị, tam” rồi nói: “Tôi nghĩ ông có thể đọc được cái này”.

Nói chung, chữ nhất được viết bằng một nét ngang, còn nhị và tam bằng hai và ba nét ngang. Và như vậy, không có chữ nào dễ hơn các chữ này trong hệ thống chữ tượng hình Đông Á. Người dân làng nhận được bức thư pháp này có lẽ nghĩ rằng Ryokan nói nhăng nói cuội hay chỉ đùa giỡn. Nhưng theo truyền thống Thiền, con số đôi khi lại biểu thị chính thực tại: chữ bên ngoài chữ.

Khi hệ thống chữ tượng hình được sáng tạo ở Trung Hoa vào bốn ngàn năm trước, những con số này được vẽ xuống đất hay khắc lên gỗ hay xương động vật với những đường thẳng. Sau khi bút lông được chế ra hai ngàn năm sau đó, các nhà thư pháp đã phát triển thứ mỹ học của bất cân xứng trong mỗi nét bút cũng như trong các nét bút của một chữ. Bức thư pháp này của Ryokan, viết bằng lối hành thư, là theo truyền thống này.

Nét ngang đầu tiên đưa lên, như thường lệ trong thư pháp Trung Hoa, nhưng với một độ chếch không điển hình. Khởi đầu bút ấn xuống, theo đó bút được kéo lên, làm nét bút nhỏ đi. Nét bút cong thanh nhã, rồi được ấn nhẹ xuống để nét bút mảnh đều ở phần sau. Ở cuối nét chữ, bút được nhấn nhẹ xuống rồi quét nhanh sang chữ tiếp theo.

Ở chữ nhị, nét bút phía trên thường ngắn hơn nét dưới. Nhưng ở đây, nét trên lại cực ngắn—gần như một chấm—cong nhẹ lên rồi quét xuống lại. Nét thứ hai bắt đầu bằng nét bút nhọn, rồi vẽ thành một vòng cung, rồi cong nhẹ xuống.

Hai nét đầu tiên của chữ tam là hai nét ngang với góc nghiêng khác nhau nối nhau. Bắt đầu bằng một nét nối ẩn, nét cuối của chữ tam là một đường thẳng. Ở hàng cuối ông viết “Tăng Ryokan Thư” (Chữ viết của sư Lương Khoan).

Có nhiều khoảng cách giữa các chữ viết và giữa các nét trong một chữ. Ryokan sáng tạo ra lối thư pháp mà chỉ bằng vài đường mỏng với ít nét thôi cũng chứa đựng được một khoảng không rộng mở.

2D61E7A7-03E6-44C9-8D16-5AC4FA446EB4

Pathway to Zen — Janet Roth

Pathway to Zen
Janet Roth

I have written before about the suiseki that was given to Mas by his teacher, Mr. Hirotsu.  It is not a stone that immediately strikes the eye but instead rewards long, quiet, contemplation.  As I’ve related, Mas said he did not understand the stone at all when Mr. Hirotsu gave it to him. Over many years he came to realize that Hirotsu-sensei had been trying to lead him, through this suiseki, to the world of Zen.

“Pathway to Zen” (“Lối Thiền”); 7″ x 4.5″ x 5″; Keiseki Hirotsu
“Pathway to Zen” (“Lối Thiền”); 7″ x 4.5″ x 5″; Keiseki Hirotsu

Mas could certainly appreciate dramatic stones and even enjoyed a bit of “bling”, but always it was the spiritual depths of quiet and subtle suiseki that drew him. This can perhaps be felt in the stone he called “Daruma”. Like the one from Mr. Hirotsu, it has depths waiting to be explored.

“Daruma” (“Đạt Ma”); 6″ x 4.5″ x 6″; Mas Nakajima
“Daruma” (“Đạt Ma”); 6″ x 4.5″ x 6″; Mas Nakajima

This past summer I joined a few friends for a collecting trip around Northern California.  I was not planning to collect any stones for myself but was there to enjoy time with friends and to help guide the group to collecting locations. One of the stops was, of course, a place on the Klamath River, deep in the Klamath Mountains of Northern California, where Mas and I loved to collect.

I chose a beautiful spot with a view of the river and scattered some of Mas’ ashes. Almost immediately I looked down, and found a very beautiful little stone, which reminded me of the one from Mr. Hirotsu.

Our good friends Tan-Phat Vo and Lisa Vole were also along on the trip. Phat had learned from Mas the craft of carving daiza and we had all spent much time over the years discussing the art and spirit of suiseki. At lunch I handed my little stone to Phat and asked him if he thought he could make a daiza for it, to which request he very generously agreed.

Recently Phat and Lisa paid a visit to California and brought me the finished suiseki. I had forgotten how beautiful the stone was – and now, finished as a suiseki in Phat’s exquisite daiza, it is sublime.

“Gateway to Zen” (“Cửa Thiền”); 4″ x 2″ x 5″; Tan-Phat Vo
“Gateway to Zen” (“Cửa Thiền”); 4″ x 2″ x 5″; Tan-Phat Vo

It gives me such joy to live with this trinity of stones from Mas, his teacher, and his student. I can only hope that someday I too will be able to glimpse that spiritual realm to which these suiseki lead.

Source: https://suisekiart.com/2022/01/15/pathway-to-zen/

Lối Thiền
Janet Roth
Võ Tấn Phát dịch

Tôi đã viết về viên thủy thạch Mas được vị thầy là ông Hirotsu tặng. Đó không phải là một viên thủy thạch gây chú ý ngay tức khắc, mà cần một sự suy tư lâu dài trong tĩnh lặng mới thưởng nghiệm được. Theo đó, Mas kể rằng anh không hề hiểu được hòn đá khi ông Hirotsu đem tặng. Phải qua nhiều năm sau Mas mới hiểu ra vị thầy Hirotsu đã gắng dẫn dắt anh, thông qua thủy thạch, vào thế giới Thiền.

Dĩ nhiên Mas cũng thích những viên đá nhiều kịch tính và thậm chí đôi khi một số đá sặc sỡ nữa, nhưng chính những hòn thủy thạch yên tĩnh, nhẹ nhàng, sâu lắng thấm vào tâm hồn mới thực sự thu hút Mas. Điều này có thể cảm nhận được từ viên đá Mas đặt tên là “Đạt Ma”. Giống như viên đá của ông Hirotsu, nó có những chiều sâu thẳm chờ ta khám phá.

Mùa hè vừa rồi tôi cùng với vài người bạn đi tìm đá ở Bắc California. Tôi không dự tính sẽ tìm đá cho mình mà chỉ đi chung vui với bạn hữu và hướng dẫn họ tới các nơi tìm đá. Một trong các điểm dừng, dĩ nhiên là một bãi đá trên sông Klamath, nằm sâu trong rừng núi Klamath ở California, một chỗ tìm đá mà Mas và tôi yêu thích.

Tôi chọn một chỗ phong cảnh tuyệt đẹp nhìn xuống dòng sông, và rải một ít tro cốt của Mas. Gần như ngay lập tức tôi nhìn xuống và thấy một viên đá nhỏ và tuyệt, làm tôi nhớ ngay đến viên đá của ông Hirotsu.

Hai người bạn thân Phát và Trang cũng đi cùng chuyến tìm đá này. Phát học cách làm đế của Mas và qua nhiều năm tháng chúng tôi đã thảo luận về nghệ thuật và tinh tuý của môn thủy thạch. Vào lúc ăn trưa tôi đem hòn đá nhỏ ra và hỏi thử Phát có thể làm cái đế gỗ cho hòn đá không, thì anh chàng vui vẻ đồng ý.

Mới đây Phát và Trang đến California và đem đến viên thủy thạch hoàn tất. Tôi đã quên mất vẻ đẹp của viên đá — giờ đây đã thành một viên thủy thạch hoàn hảo với cái đế gỗ thanh tú do Phát làm, nó trông tuyệt hảo.

Khó nói hết được niềm vui của tôi khi ngắm nhìn bộ ba viên thủy thạch này, một viên của người thầy của Mas, một viên của Mas, và một viên từ người học trò của Mas. Tôi chỉ có thể ước mong rằng sẽ có ngày tôi chạm đến chốn tinh thần mà những hòn thủy thạch này dẫn dắt ta vào.

The Tragedy of Central Europe — Milan Kundera

President Zelensky
President Zelensky of Ukraine: “Look, we are here dying for European ideals.”

Milan Kundera


The Tragedy of Central Europe

Milan Kundera
Translated from the French by Edmund White

In November 1956, the director of the Hungarian News Agency, shortly before his office was flattened by artillery fire, sent a telex to the entire world with a desperate message announcing that the Russian attack against Budapest had begun. The dispatch ended with these words: “We are going to die for Hungary and for Europe.”

What did this sentence mean? It certainly meant that the Russian tanks were endangering Hungary and with it Europe itself. But in what sense was Europe in danger? Were the Russian tanks about to push past the Hungarian borders and into the West? No. The director of the Hungarian News Agency meant that the Russians, in attacking Hungary, were attacking Europe itself. He was ready to die so that Hungary might remain Hungary and European.

Even if the sense of the sentence seems clear, it continues to intrigue us. Actually, in France, in America, one is accustomed to thinking that what was at stake during the invasion was neither Hungary nor Europe but a political regime. One would never have said that Hungary as such had been threatened; still less would one ever understand why a Hungarian, faced with his own death, addressed Europe. When Solzhenitsyn denounces communist oppression, does he invoke Europe as a fundamental value worth dying for?

No. “To die for one’s country and for Europe”—that is a phrase that could not be thought in Moscow or Leningrad; it is precisely the phrase that could be thought in Budapest or Warsaw.

Source: http://www.kx.hu/kepek/ises/anyagok/Kundera_tragedy_of_Central_Europe.pdf

Tổng thống Zelensky của Ukraine nói: “Chúng tôi đang sống chết cho những lý tưởng của châu Âu”.

Một phương Tây bị bắt cóc, hay bi kịch của Trung Âu
Milan Kundera
Chiêu Dương dịch

Tháng 11 năm 1956, Giám đốc Thông tấn xã Hungary, mấy phút trước khi văn phòng của ông bị san phẳng bởi hỏa lực pháo binh, đã gửi một bức điện tới toàn thế giới với một thông điệp đầy tuyệt vọng, thông báo rằng Nga đã bắt đầu tấn công vào Budapest. Bức điện kết thúc với câu: “Chúng tôi sẽ chết cho Hungary và cho châu Âu.”

Câu nói này có nghĩa là gì? Chắc chắn nó nghĩa là những chiếc xe tăng của Nga đang đe dọa Hungary, và bằng cách đó, đe dọa chính châu Âu. Nhưng châu Âu bị đe dọa theo nghĩa nào? Những chiếc xe tăng của Nga sẽ vượt qua biên giới của Hungary tiến về phía Tây? Không. Vị giám đốc Thông tấn xã Hungary muốn nói rằng, nước Nga, khi tấn công Hungary, cũng chính là đang tấn công châu Âu. Ông ấy sẵn sàng chết để Hungary vẫn là Hungary và vẫn thuộc về châu Âu.

Dù ý nghĩa của câu nói này có vẻ đã quá rõ ràng, nó vẫn còn khơi gợi nhiều điều khiến chúng ta suy ngẫm. Thực ra, ở đây – nước Pháp, hay ở Mỹ, người ta quen nghĩ rằng thứ bị đe dọa trong cuộc tấn công đó chẳng phải Hungary hay châu Âu, mà là một thể chế chính trị. Người ta sẽ không bao giờ nói rằng Hungary với tư cách quốc gia bị đe dọa, huống hồ là hiểu được tại sao một người Hungary, đang đối mặt với cái chết của chính mình, lại đi kêu lên với châu Âu. Khi Solzhenitsyn lên án sự áp bức của chủ nghĩa cộng sản, ông có gợi đến châu Âu như một giá trị nền tảng, xứng đáng hy sinh thân mình để bảo vệ nó?

Không hề, “chết cho tổ quốc tôi và cho châu Âu” là câu nói mà không ai ở Moskva hay Leningrad có thể nghĩ tới, nhưng nó chính xác sẽ là câu mà người Budapest hay Warszawa nghĩ.

Nguồn: https://zzzreview.com/2019/07/31/mot-phuong-tay-bi-bat-coc-hay-bi-kich-cua-trung-au

Plum Blossoms

Plum Blossoms
Phat Vo

We were born in the tropical part of the country of Vietnam and grew up with images of “yellow plum blossoms,” Ochna integerrima, or “mai” in Vietnamese, every lunar New Year. In school we learned of many poems involving plum blossoms. Little did we know that the plum in ancient East Asian literature is of a different type, Prunus mume.

Plum, or mei in Chinese (ume in Japanese, or mai in Vietnamese) was loved by the literati class since ancient times. But it was not until the Song Dynasty that plum was the plant front and center in philosophy, art, and literature. The neo-Confucian philosopher, Zhu Xi, associated plum tree with four virtues of heaven. The hermit, Lin Bu, called plum his soul mate, and his poem on plum ever since has been considered the best on plum blossoms in Chinese literature. The Zen monk, Shi Zhongren, invented the ink wash painting of plum blossoms on silk. The great literati, Su Shi, praised plum blossoms with phrases like “Bones of Jade, Soul of Ice”. The poet, Lu Yu, wished to transform his body into a million incarnations, each under a plum tree to appreciate it fully. The list goes on and on.

Later this love of plum blossoms has been transmitted to other countries in East Asia. In Japan the use of plum blossoms in art had grown strong among the Zen circles. Eihei Dogen wrote a lively treaty on plum blossoms. Ikkyu Sojun, Hakuin Ekaku, Ryōkan Taigu, Matsuo Basho and Sesshu Toyo contemplated over life with poems about plum blossoms or paintings of plum blossoms.

Plum - kitchen

Plum - tea, wine

As we love Japanese culture, and especially as we are into suiseki art, we naturally love plum blossoms. Plum blossom images are everywhere in our kitchen utensils. Plum trees and blossoms are in our sake containers, tea pots, tea bowls, and tea cups. We have ranma (transoms) with plums. We have a few woodblock prints with plum blossoms and bush warblers. We enjoy suiseki with images of plum blossoms from suiseki club members, and wish some day to find a beautiful plum imaged suiseki. And the funny thing was that we had never seen real plum blossoms.

In February 2020 we planned to go to Japan to see the suiseki exhibition and later to experience some plum blossom festivals in Kyoto. The trip was canceled due to COVID-19. We then used our saved vacation in 2020 and 2021 to travel in the USA to find stones, and unexpectedly we found some beautiful ume suiseki. Was it karma?

Ume and Uguisu (Plum and warbler)
Ume and Uguisu (Plum and warbler) WxHxD 8×4.5×4 in

In January 2022 we overheard that plum trees were blooming at The Huntington Library; we arranged with Jim Greaves to meet with him there to view the plum blossoms, first time for us, and to see Jim’s wonderful suiseki collection at The Huntington. Our excitement spread to Jim. Later that day we came over and stayed overnight at Jim’s house. There in his Japanese tea room under the dim light we enjoyed one of the best suiseki, collected years ago on the Merced River by Jim’s deceased wife Alice, named “Ume over Lake Biwa.” That was a perfect weekend.

Huntington Library- Jim and Phat
Huntington Library- Jim and Phat
Huntington Library - Lisa and Phat
Huntington Library – Lisa and Phat
Huntington Library, Japanese Garden - Plum
Huntington Library, Japanese Garden – Plum
Huntington Library, Japanese Garden - Plum Blossoms
Huntington Library, Japanese Garden – Plum Blossoms
Alice Greaves, “Ume over Lake Biwa”, Merced River
Alice Greaves, “Ume over Lake Biwa”, Merced River

Nowadays mei is everywhere. Its image becomes an object of kitschy conformity. But it need not be so. The culture of East Asia has long loved mei for its beauty and admired mei for its spirit. Mei often associates with men of conscience of their day, who could not remain silent before the injustices of the world, who gave honest assessments to the Emperors or their superiors, who were seldom listened to, often punished, sometimes with death. But even so, these gentlemen found solace in mei: its flowers might be destroyed by snow or rain, but the fragrance lingered long afterwards. In this land while we enjoy the beauty and fragrance of mei, our minds could not but recall the spirits of these noblemen of the past, while our hearts go out to the men and women of conscience of today.

Source: http://aisekikai.com/resources/February+newsletter+22.pdf

Trang and Phat, “Ume” (Plum Blossoms) WxHxD 6×4.5×4.5 in
Trang and Phat, “Ume” (Plum Blossoms) WxHxD 6×4.5×4.5 in


Mai

Võ Tấn Phát

Chúng tôi sinh ra ở xứ nóng miền Nam Việt Nam, và khi lớn lên Tết nào cũng thấy mai vàng, tên khoa học là Ochna Integerrima. Trong trường học chúng tôi đọc nhiều bài thơ về mai, mà không hề biết mai trong thơ văn cổ điển Đông Á là loài mai khác, tên khoa học là Prunus Mume.

Mai — tiếng Trung Hoa là mei, tiếng Nhật là ume, tiếng Anh là plum, hay đôi khi là apricot — được giới văn nhân Trung Hoa yêu thích từ xa xưa. Nhưng phải đến thời Tống, mai mới đứng đầu các loài thảo mộc trong triết học, nghệ thuật, và thơ văn. Nhà triết học Tống Nho, Chu Hi, cho rằng mai có bốn đức lớn của trời đất. Vị ẩn sĩ Lâm Bô coi mai là vợ, và bài thơ của ông vẫn được coi là bài thơ vịnh mai hay nhất trong văn chương Trung Hoa. Thiền sư Thích Trọng Nhân khởi đầu môn vẽ mai bằng thủy mặc trên lụa. Đại văn hào Tô Thức đã tôn sùng mai bằng những câu như “Xương ngọc, hồn băng”. Nhà thơ Lục Du ước gì thân mình được hoá thành trăm nghìn mảnh để mỗi mảnh nằm dưới mỗi gốc mai. Danh sách đó kéo dài vô hạn.

Tình yêu mai sau đó đã lan sang các nước Đông Á khác. Ở Nhật Bản hình ảnh hoa mai bàng bạc khắp chốn Thiền môn. Vĩnh Bình Đạo Nguyên viết một bài pháp ngữ sống động về hoa mai. Nhất Hưu Tông Thuần, Bạch Ẩn Huệ Hạc, Lương Khoan Đại Ngu, Tùng Vĩ Ba Tiêu, Tuyết Chu Đẳng Dương suy ngẫm về nhân sinh qua thơ văn về mai hay họa phẩm vẽ mai.

Vì chúng tôi yêu văn hoá Nhật, và nhất là vì chúng tôi mê đắm nghệ thuật thủy thạch, lẽ tự nhiên là chúng tôi yêu mai. Hình ảnh mai có khắp nơi trên các vật dụng trong nhà bếp. Mai cũng có cùng khắp trên bình rượu, bát trà, bình trà, chén uống trà. Nhà chúng tôi trang trí bằng khung cửa sổ gỗ của Nhật khắc hình mai. Chúng tôi mua những bức tranh khắc gỗ có hoa mai và chim oanh. Chúng tôi yêu thích những hòn thủy thạch hình mai của những thành viên của các hội thủy thạch, và ước một ngày nào đó tìm được một hòn thủy thạch hình mai. Điều nực cười là chúng tôi chưa hề thấy mai thật ngoài đời.

Vào tháng hai năm 2020 chúng tôi đã chuẩn bị tất cả mọi thứ để du lịch Nhật Bản, đến tham quan cuộc triển lãm thủy thạch quan trọng, rồi đến Kyoto tham dự các hội hoa mai. Chuyến đi bị hủy bỏ vì COVID-19. Trong hai năm 2020 và 2021 chúng tôi để dành những ngày nghỉ phép để đi dạo khắp nước Mỹ tìm đá. Rồi bất ngờ chúng tôi tìm được vài hòn thủy thạch hình mai rất tuyệt. Có duyên nợ gì nhau chăng?

Tháng giêng năm 2022 chúng tôi đọc được tin ở Huntington Library hoa mai đang nở ở vườn Trung Hoa và vườn Nhật, nên chúng tôi sắp xếp với ông Jim Greaves gặp nhau để ngắm hoa, là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy hoa mai, và sẵn dịp thưởng thức bộ sưu tập thủy thạch của ông ở đó. Sự hào hứng của chúng tôi cũng lây sang Jim. Tối đó chúng tôi đến nghỉ lại nhà của Jim. Trong căn trà thất kiểu Nhật, dưới ánh sáng mờ ảo, chúng tôi được thưởng ngoạn một trong những viên thủy thạch đẹp nhất, “Mai trên Hồ Tỳ Bà”, do người vợ quá cố Alice của ông tìm thấy nhiều năm trước trên sông Merced. Một kỷ niệm cuối tuần tuyệt hảo!

Hôm nay mai có mặt khắp nơi. Hình ảnh mai trở thành thời thượng sếnh sáo. Nhưng mai đâu phải thế. Nền văn hoá Đông Á từ xưa đã yêu mai vì đẹp và kính mai vì thần. Mai thường đồng hành với những bậc quân tử gánh vác lương tâm thời đại của họ, những người không thể lặng thinh trước bất công của thế gian, dám cất lời trung nghĩa với Hoàng đế hay với quan trên, ít được lắng nghe, thường bị trừng phạt, đôi khi bị xử chết. Nhưng dù vậy, họ vẫn tìm được niềm an ủi ở mai: dù hoa mai có bị vùi dập tan nát trong mưa bão tuyết giá, hương mai vẫn lưu mãi về sau. Ở chốn này khi chúng ta vui hưởng vẻ đẹp và hương thơm của mai, trí ta không khỏi nhớ lại khí phách của những bậc trượng phu của quá khứ, tâm ta không khỏi hướng về những tù nhân lương tâm của hôm nay.

Nguồn: http://aisekikai.com/resources/February+newsletter+22.pdf

Plum Blossoms — Shi Zhongren

Plum Blossoms-Shi Zhongren
Plum Blossoms-Shi Zhongren

Shi Zhongren (釋仲仁), or Huaguang Zhongren (華光 仲仁) (d. 1123) was the Zen monk who one night spontaneously traced the shadows of a blossoming plum branch cast by the moon on the paper window of his hermit’s cell, thereby inventing the calligraphic style of painting the flowering plum.

Text: https://asia.si.edu/wp-content/uploads/2017/10/F1931-1_Documentation.pdf

Picture: https://www.pinterest.com/pin/483644447468225039/

Thích Trọng Nhân (釋仲仁), hay Hoa Quang Trọng Nhân (華光 仲仁) (mất 1123), là vị thiền sư vào một đêm tối đã ngẫu hứng đồ theo bóng một cành mai do ánh trăng in lên giấy dán song cửa sổ trên thiền thất của ông, và khởi đầu cho lối vẽ mai bằng thủy mặc như thư pháp lên lụa và giấy.

Đá — Chân Văn

416B2A71-0C48-4412-B405-7329F599A691
Đá
Chân Văn
(Đỗ Quý Toàn/Ngô Nhân Dụng)

Ở Vườn Nai có các thầy, các cô rất dễ thương. Xe đến nơi, bước lên sườn đồi, nhìn thấy khuôn mặt một sư cô, một sư chú thôi, là tự nhiên hai lá phổi mình tự động hít một hơi dài sung sướng. Thế là quên hết những gió bụi dọc đường. Gặp một người quen, chắp tay búp sen, mỉm cười; chẳng cần nói một câu, trong giây lát trao đổi nhau biết bao nhiêu niềm thân thiết.

Thế nhưng mà (phải xin quý thầy, quý cô ở Vườn Nai tha lỗi), mỗi lần trên đường tới Vườn Nai, trong lòng tôi nôn nao một niềm vui nho nhỏ. Muốn quên nó đi không được, cứ dìm nó xuống lâu lâu nó lại ngoi lên. Đó là cái cảm giác hạnh phúc biết mình sắp được gặp các tảng đá. Khi xe leo lên dốc quanh sườn đồi, miệng mở ra nhoẻn những nụ cười đầu tiên, là lúc nhìn thấy mặt các anh chị đá xếp hàng hai bên đường, như những người bạn cũ chung thủy. Mà cứ y như rằng, hễ mình mỉm miệng cười thì các anh các chị đá cũng cười theo đáp lễ. Còn như nếu mình mải nói chuyện quên không cười chào thì các anh chị đá vẫn bình tĩnh trầm ngâm, không một lời hờn trách bao giờ!

Có lần đi lang thang trong tu viện, qua xóm Vững Chãi, qua các dãy nhà tạm trú của các thiền sinh, đi sâu vào phía trong, sau những mảnh kiếng thu điện mặt trời, theo con đường mòn xuống thung lũng, tôi gặp một tảng đá thật lớn, cao quá đầu người, bề mặt phẳng gần bằng một cái chiếu vuông. Đây rồi! Đứng lại, chắp tay chào, nhìn tảng đá mà thở một hơi dài, không khí núi ngập đầy hai lá phổi! Tảng đá này chắc phải là anh, chị em ruột với một tảng đá ở Làng Cây Phong mà tôi vẫn đến chào mỗi khi về Làng. Leo lên trên mặt bằng phẳng, tôi cũng ngồi xuống, xếp hai chân lại, thẳng lưng lên, sung sướng được thở ra thở vào cùng với đá. Một vài lần như vậy, tới một bữa tôi liếc nhìn sang phiến đá bên cạnh, chợt thấy một cái tọa cụ có ai đã cất dưới chùm lá cây. Tọa cụ được giấu kín dưới khe đá để che cho khỏi ướt nếu trời mưa! Thật là vui, khi biết có thêm người đã ngồi trên tảng đá này! Chắc một thầy, hay một sư cô nào đó đã tới đây xin kết bạn thân với anh, chị Đá này nhiều lần trước. Chắc từ lâu rồi, người bạn đá ấy đã tới đây ngồi nhiều lần cho nên mới đem cả tọa cụ tới cất một chỗ! Khi đứng dậy chắp tay vái chào từ giã anh Đá, tôi cũng gửi một lời chào cho người bạn đá ấy – mà tới giờ tôi chưa biết là ai, hay là những ai!

Không biết tu đến kiếp nào mình mới buông bỏ được tấm lòng yêu đá. Tình yêu, như chúng ta thường bảo nhau, chẳng ai biết nó là thế nào! Đó là một tâm trạng rất khó phân tách rõ ngọn nguồn. Chỉ biết, không gặp mặt thì nhớ, chờ nhau lòng khấp khởi, trông thấy nhau thì hớn hở vui mừng. Gặp nhau không ai nói với ai một lời, nhưng biết bao nhiêu nỗi niềm được truyền qua lại, không thể định nghĩa đó là những nỗi niềm gì. Từ nhỏ chúng ta đã trải qua những kinh nghiệm như thế. Đối với một người bạn cùng xóm, một thầy giáo, một cô giáo, hoặc ông chú, bà cô nào đó. Đến tuổi dậy thì tâm trạng đó càng hay xãy ra. Ai chưa yêu thì không thể nào hiểu được. Người yêu đá cũng vậy. Ngồi quán chiếu về đá, về tình yêu mình đối với đá, về lẽ vô thường của vạn hữu, về lịch sử trái đất, lịch sử địa chất, cả lịch sử thành hình vũ trụ. Cứ như thế hết lần này sang lần khác, cũng khó hiểu được tại sao mình bị lòng yêu đá ràng buộc đến như thế. Không hiểu rõ nguồn cơn, thì chưa biết làm sao để mà rũ bỏ.

Cho nên, xin quý vị hãy coi đây là một bài sám hối. Hoặc nói như anh chị em tin thờ Chúa, đây là những lời ăn ăn xưng tội, confessions. Tôi yêu đá. Yêu chưa thể nào bỏ được. Phải tới rặng Rocky Mountains ở Alberta, Canada. Đứng đó mà nhìn lên, chiếm đầy cả bầu trời chỉ toàn là đá. Phải tới Vân Nam, nhìn những bức đại tự chính tay đá vẽ trên vách núi nét bút thảo lượn phơi phới như rồng bay. Phải thức dậy ở Làng Cây Phong sau một đêm mưa tuyết, nhìn xuống vườn thấy những tảng đá hôm qua đã biến mất, chỉ còn những gò tuyết trắng êm như nhung! Đá, ở dưới lớp tuyết âu yếm che giấu đó là đá! Ở bên làng, có lúc người ngồi yên trên tảng đá giữa rừng, đàn nai thản nhiên đi qua không sợ hãi, nghĩ con người cũng hiền như tảng đá. Phải nằm soải trên nền đá ấm áp một buổi trưa mùa Thu, nhìn lên những hàng lá đổi màu. Phải lượm một hòn sỏi trong khe suối, hay trên bãi biển, đưa lên nhìn không chán mắt, không nỡ rời tay. Có những lúc nhìn thấy đá, bỗng ngây người, tự biết mình si ngốc mà không bỏ được, không hiểu vì sao. Đó là tình yêu.

Đến Vườn Nai, nhìn chung quanh đầy bè bạn, bát ngát, trùng trùng, lố nhố, trên ngó xuống dưới ngó lên, đàn đúm với nhau những đá là đá! Hỏi không dao động trong lòng sao được?

Ở Vườn Nai có những trường thành đá xếp hàng trên lưng dãy núi cao tuốt luốt, trông xa như đám trẻ em nối đuôi nhau lom khom chơi trò Rồng Rắn, em này đặt tay trên lưng em kia, vừa bước đi vừa hát nhịp nhàng. Có những tảng cao ngất trời tụm năm, tụm bảy lưng chừng non, như mấy người bạn vừa ngồi ngắm cảnh vừa trò chuyện cùng nhau. Những tảng đá hùng vĩ trên đỉnh cao đứng thản nhiên nhìn xuống đám chúng sinh dưới chân đồi bước chân theo nhau thiền hành. Người đang bước chân đi, qua một khúc rẽ, bỗng đứng sững lại, ngẩn người, vì trước mắt hiện ra một khuôn mặt đá rạng ngời! Có những bức vách đá sừng sững, phơi mặt với gió sương trên lưng chừng núi qua bao nhiêu triệu năm trông như có người đã phạc thành một bức tường, phơi một mặt đá xám như trang giấy chờ họa sư tới đưa tay, đưa một đường tuyệt bút. Nhìn kỹ thì thấy chẳng cần ai đem bút tới vẽ vời làm chi. Chính những đường gân trên mặt đá, ánh sáng chiếu vào, đang lung linh hiện lên những thư pháp nhiệm mầu!

Cả những hòn đá cuội nằm rải hai bên đường, cũng đầy tình ý. Có người nhặt đá nắm trên tay âu yếm. Hình như óc chiếm hữu chưa bỏ được, đem về nhà rồi cũng không biết bầy đâu cho hết. Ngày xưa bên Tàu có ông Ngưu Tăng Nhụ (Niu Seng Ju, 779 – 847, đời Đường) được mô tả là người “yêu đá như yêu con cháu, cung kính với đá như đối với bạn bè.” Nhưng ông cũng quý đá như bảo ngọc. Nói đến châu ngọc, không khỏi dấy lên lòng chiếm hữu. Nhiều anh chị em đi qua Vườn Nai đã xếp các hòn đá cuội lại như muốn gửi những thông điệp cho chính mình hay cho người một kiếp sau nào sẽ đi qua. Vẫn muốn sử dụng đá như những phương tiện truyền đạt không lời.

Nhưng mà khi chúng ta đứng đối diện, nhìn tận mặt một tảng đá đứng hay ngồi tĩnh tọa bên đường, lúc đó mới là lúc người cùng đá giao cảm với nhau với tấm lòng mở rộng, bình đẳng, thấm sâu và bền chặt nhất. Mình nhìn đá, đá nhìn mình. Mình mỉm cười, đá nháy mắt. Mình không cần nói một câu, đá hiểu hết. Mình chắp tay, cúi đầu vái đá. Đá lặng thinh, coi như mình đang vái một cõi vô thường.

Tôi không nhớ mình đã có thói quen vái chào các tảng đá tự năm nào, ba hay bốn chục năm trước. Nhưng gần đây càng ngày thói quen càng nặng, gặp đá là cúi đầu thi lễ. Đứng chụm hai chân, thẳng lưng, nhìn đá như là đá, chắp hay bàn tay lại, cung kính nghiêng mình. Bởi vì không biết cách diễn tả nào khác. Mình không thể nói với đá được, vì đá không có tai nghe. Ôm đá cũng là một hành động dễ thương, nhưng đá không thể đáp lại đưa hai tay ôm mình để đáp lễ được. Yêu ai mình không nên đặt người ta vào một hoàn cảnh bố rối như thế. Cho nên, cứ cúi chào nhau, nghiêng mình một lúc lâu, trong giây phút đó những tâm tình được truyền qua lại, biết không thể truyền bằng lời nói được.

Có lẽ lần đầu tôi cúi chào đá là do ảnh hưởng của bốn chữ “bái thạch vi huynh,” nghĩa là người lạy đá, để kết nghĩa nhận đá làm anh. Trước khi Phan Bội Châu viết bài phú mang tên đó, bài này rất nổi tiếng, thì nhiều nhà văn bên Trung Hoa đã hành động như thế rồi. Một người nổi tiếng nhất là ông Thẩm Quát, vào thế kỷ 11. Một lần tôi hỏi ông Tạ Trọng Hiệp, một nhà thư tịch học uyên thâm, về điển tích“bái thạch vi huynh,” không ngờ ông về nhà viết cho một lá thư dài cho biết những ai đã làm công việc đó. Không ngờ thói quen này đã được truyền thụ qua nhiều đời như thế!

Thói quen gặp đá cúi chào tôi đã nhiễm từ mấy chục năm nay, nhưng gần đây tôi hay vái chào hơn, và chào một cách chân thành, kính cẩn, thấm thía hơn, cũng nhờ ảnh hưởng của Anica.

Năm Anica chưa đầy một tuổi thì cha mẹ cháu từ Mỹ sang Thái Lan làm việc. Cháu lớn lên với các chị giữ em người Thái, đến vườn trẻ chơi với trẻ con Thái, được các sinh viên học trò của bố mẹ bồng bế. Cháu học được thói quen nghiêng mình vái lạy mỗi khi đi qua trước bàn thờ Bụt; mà ở Thái Lan thì mỗi ngã tư lại thấy một bàn thờ. Cháu học được tiếng “Vái,” một tiếng Thái Lan giống tiếng Việt.

Một lần về California thăm ông bà ngoại, lúc lên 3 tuổi, Anica ở ngoài sân chơi tha thẩn với mấy khóm hoa trong vườn. Cháu đưa tay xoa trên mấy bông hoa lavender (tiếng Việt gọi là hoa oải hương), rồi bước tới đưa hai tay cho ông ngoại ngửi mùi thơm. Cháu vuốt, vuốt mấy chùm hoa tím mỏng manh nhoi lên từ mặt đất, cao ngang tầm tay cháu, như vuốt má một em bé. Bỗng nhiên có lúc cháu ngưng tay vuốt hoa; cháu chắp hai tay lại và nghiêng mình rất sâu, vái lạy mấy bông hoa.

“Anica! Tại sao Anica vái bông hoa?”

Anica quay nhìn ông ngoại, miệng trả lời ngay không cần suy nghĩ, bằng tiếng Anh: “Because, it’s beautiful!” (Bởi vì hoa đẹp quá!)

Chúng ta đâu có cách nào nói cho một bông hoa hiểu, rằng, “Hoa ơi, bạn đẹp quá!” Hoặc “Bác Hoa ơi, bác đẹp quá!” hay “Cô Hoa ơi, cô đẹp quá!” Đối với một em bé lên ba chưa biết nói tiếng người đầy đủ, làm sao diễn tả được tấm lòng yêu mến, hâm mộ nức lên trong lòng? Làm sao xin kết bạn được với bông hoa? Không ai dậy cháu cách diễn tả nào khác. Anica đã chắp tay vái; như vẫn vái Bụt.

Kể từ khi học Anica, tôi đã thay đổi những lần tôi vái chào các tảng đá. Trước kia, tôi chào tảng đá như một người anh, một người mình kính trọng nhưng không dám gần gũi thân mật quá, sợ gần gũi quá thì thiếu niềm tôn kính. Tôi đoán các cụ đời xưa như Thẩm Quát hoặc Phan Bội Châu “bái thạch vi huynh” cũng mang cùng một thái độ cung kính mà xa cách như thế.

Nhưng cháu Anica đã dậy tôi sống với thái độ mới. Chúng ta có thể vái chào bông hoa, vái chào tảng đá, giống như mình vái Bụt. Bụt ở trong mình, mình ở trong Bụt. Đá ở trong mình, mình cũng trong đá, hai bên cảm ứng với nhau. Cảm ứng đó phải được thực tập nhiều lần một kinh nghiệm sống, sống một cách tự nhiên, để cho lòng mình thật sự cung kính, chuyên tâm chú ý cúi đầu vái lạy. Cảm ứng đó cũng không thể suy nghĩ, không thể thảo luận hay giải thích được.

Khi nói đến đá chúng ta tưởng đó là tiêu biểu của sự trường tồn. Nhiều người vẫn chỉ đá, chỉ sông nước mà thề nguyền với nhau, coi như không bao giờ thay đổi! Ông Thẩm Quát (1031 – 1095, đời Tống) lạy đá nhận làm anh; nhưng ông cũng nghiên cứu đá như một nhà địa chất học. Nhờ thế đã nhìn thấu trong đá thấy lẽ vô thường.

Thẩm Quát là một người bác văn quảng kiến, người đầu tiên viết về đặc tính kim nam châm làm la bàn (trong sách Mộng Khê Bút Đàm in năm 1088, 100 năm trước cuốn sách De naturis rerum và De ustensilibus của Alexander Neckam ở Âu châu bàn về chuyện này).

Nhờ quan sát ông khám phá ra sao Bắc Đẩu không phải là phương Bắc “thật” theo từ tính của kim nam châm. Ông là người đứng đầu viện thiên văn tại triều đình, bỏ 5 năm nghiên cứu quan sát, ghi chép chuyển động của mặt trăng trước khi bị triều đình xóa bỏ hết công trình. Ông thật là một “người thời Phục Hưng’ mấy trăm năm trước thời Phục Hưng ở Âu châu, vừa là một nhà toán học, một nhà phát minh, một thi sĩ, một người tham thiền, nghiên cứu y học và dược tính cây cỏ; có lúc lại làm bộ trưởng tài chánh, làm tổng thanh tra trong chính phủ, trước khi bị tước bỏ hết chức tước vì theo phái cải cách Vương An Thạch.

Những người yêu đá chú ý đến Thẩm Quát vì ông “lạy đá gọi bằng anh”. Nhưng cũng còn vì ông đã nêu ra những giả thuyết về sự biến chuyển hình thái đất đá (geomorphology). Năm 1074 đi thăm rặng núi Thái Hàng (phân chia hai vùng Sơn Đông và Sơn Tây bên Tầu), ông thấy trên núi có những vỏ sò hóa thạch mặc dù ngọn núi ở cách xa biển mấy trăm cây số; ông đưa ra giả thiết vùng này trước kia phải là bãi biển. Ông cũng khám phá những cây tre hóa thạch ở một vùng khí hậu lạnh, chung quanh không hề có bóng tre; để đưa ra giả thuyết khí hậu trong thiên hạ từng thay đổi nóng hóa lạnh, lạnh trở thành nóng. Khi quan sát đất bồi ở giữa các dãy núi trong rặng Thái Hàng và trong khe núi Nhạn Đãng (gần Ôn Châu bây giờ) ông nhận thấy những vùng đất phù sa tích lũy biết bao đời trước sau đó đã bị soi mòn trải qua nhiều thời đại kế tiếp, để lại các tảng đá hình dung cổ quái, chứng tỏ mặt đất đã thay đổi với thời gian, khi lên khi xuống. Trên mặt đất, trong núi non vững như thế mà cũng là những cuộc bể dâu chẳng có gì thường tồn cả.

Một người chứng kiến và suy ngẫm về lẽ vô thường một cách sâu xa như thế, lại là người đã bái thạch vi huynh!

Cho nên, khi nghiêng mình vái chào các ông anh bà chị đá của chúng ta trong Tu viện Vườn Nai, chúng ta lâu lâu có dịp nhắc nhở cùng nhau: Các anh, các chị đá ơi, chẳng ai thường tồn đâu, lũ chúng ta đều như vậy cả.

Những ai đã qua Vườn Nai trong 10 năm qua thì chắc ghi nhận bên phải đường leo trên lối vào có hình ảnh một tảng đã đã vỡ làm đôi. Mấy năm đầu còn trông thấy một tảng đá gần như nguyên con, bị nứt ở giữa, hé ra một khe nhỏ hình chữ V nhỏ, rồi mỗi năm kẽ đá vỡ lại tách rộng thêm ra. Thế rồi kẽ nứt mở rộng thêm, hai mảng nghiêng qua hai phía, vẽ thành một chữ V lớn, càng ngày càng rộng. Chắc sẽ có ngày hai tảng đá mới mới tìm được thế thăng bằng, ngưng không nghiêng thêm nữa. Hay là sẽ có ngày một tảng, hoặc cả hai tảng, cùng sụp đổ và nằm xuống?

Bao nhiêu tảng đá khác ở các sườn núi, trong thung lũng Vườn Nai, cũng đang nhúc nhích như thế? Đá di động, đá nhích từng bước. Mặt đất lâu lâu lại rùng mình. Cả trái đất đêm ngày cựa quậy. Gió, cát, hơi nước cũng lưu chuyển tuần hoàn. Nếu mắt chúng ta có khả năng nhìn được phong cảnh đó biến chuyển suốt một trăm triệu năm, một tỷ năm, chắc chúng ta sẽ thấy chung quanh ta là một vũ khúc! Vũ điệu của đá, cũng giống như các điệu múa của loài người, đều biểu diễn tính vô thường. Vũ công không thể đứng yên bất động. Vũ điệu là cái gì diễn ra giữa hai vị trí của bàn chân, giữa hai vị trí của một cánh tay. Nhưng nó chính là chuyển động, hay nó là khoảng trống giữa hai chuyển động? Hay là cả hai? Hoặc không là gì cả? Múa là nghệ thuật của vô thường. Giống như khi Thẩm Quát nhìn rặng núi Thái Hàng mà thấy những biến hóa địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm, chúng ta có thể nhìn các tảng đá giang tay nhau quây quần ở bốn phía Vườn Nai mà nghiệm thấy hình ảnh mặt đất đã thay đổi suốt những thế kỷ qua như thế nào, trước khi loài người có mặt trên trái đất. Những tảng đá đứng lặng yên kia thực sự đã tham dự vào một điệu múa muôn đời của vũ trụ. Ngay bây giờ đá vẫn còn đang múa lượn!

Nguồn: https://langmai.org/dai-may-tim/van/cau-van-cua-long-truoc-2014/da/

Plum Blossoms — Motsurin Jōtō (Bokusai)

http://www.metmuseum.org/art/collection/search/670896
Motsurin Jōtō (Bokusai), Plum Blossoms


Plum Blossoms

Motsurin Jōtō (Bokusai)

Plum blossoms, symbolic of the arrival of spring, were a favored subject among scholar-gentleman painters in China, but when Chinese ink paintings of plums arrived in Japan their imagery became widespread within Zen circles. This composition of a gnarled plum tree framed by a circle of ink wash may reflect the use of the circle in Zen painting and calligraphy as a visual representation of words from the text of the Heart Sutra, “form is void and void is form,” and as a symbol of enlightenment.

Motsurin, a Zen artist-monk, might also have chosen plum blossoms because they were beloved of his mentor Ikkyū Sōjun (1394–1481), an abbot of Daitokuji temple in Kyoto known for his poetry, calligraphy, and flagrantly unorthodox behavior. Motsurin’s inscribed text[1] claims that even elegant peonies and sweet jasmine[2] cannot match the plum as a representation of the spring season.

Source: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/670896

Note:
[1] Text:
I walk over the stream and garden in search of flowers. / The plum tree stands tall and welcomes the immortals. / Its elegant appearance in winter surpasses its peers. / Fragrance that lingers even after three bathings is unique to this flower. / Peonies are supreme as the flowers of the rich, / jasmine is superior as the flower of purity. / But these are inferior to this earliest one of flowers, / for it captures the spring of myriad blossoms.

Source: http://burkecollection.org/catalogue/124-plum-blossoms

[2] more likely gardenia

Hoa Mai
Một Luân Thiệu Đẳng (Mặc Trai)
(Võ Tấn Phát dịch)

Hoa mai, biểu tượng của lập xuân, là một chủ đề yêu thích của các họa sĩ trong giới văn nhân sĩ phu Trung Hoa, nhưng khi những bức thủy mặc vẽ mai của Trung Hoa đến Nhật thì hình ảnh mai lại lan truyền rộng rãi trong Thiền giới. Bố cục của một cành mai gân guốc đóng khung trong vòng tròn mực nhạt có thể phản ánh cách sử dụng vòng tròn trong hội họa và thư pháp Thiền như một lối trình bày trực quan một đoạn trong Tâm Kinh: “không chính là sắc, sắc chính là không”, và như một biểu tượng của giác ngộ.

Một Luân Thiệu Đẳng, một thiền sư họa sĩ, có lẽ đã dùng hoa mai vì chúng được yêu quý rất mực bởi sư phụ của ông, Nhất Hưu Tông Thuần (1394–1481), trụ trì Đại Đức Tự ở Kyoto, nổi tiếng về thi ca, thư pháp, và lối sống ngang tàng phá giới. Thủ bút[1] của Một Luân Thiệu Đẳng trên bức hoạ cho rằng ngay cả mẫu đơn thanh tú và chi tử[2] ngọt ngào cũng không thể sánh được với mai để đại diện cho mùa xuân.

Nguồn: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/670896

Ghi chú:
[1] Thủ bút:
Ta dạo qua suối qua vườn tìm hoa.
Cội mai vươn cao nghênh đón thần Phật.
Vẻ thanh tú của mai trong mùa đông vượt hết các loài khác.
Sau ba cơn mưa hương vẫn lưu lại thì chỉ có ở mai.
Mẫu đơn là loài hoa trưởng giả,
Chi tử là là loài hoa thanh khiết.
Nhưng vẫn kém loài hoa nở sớm nhất,
Vì mai nắm bắt được mùa xuân bằng vô vàn đóa hoa.

Nguồn: http://burkecollection.org/catalogue/124-plum-blossoms

[2] Bản tiếng Anh là jasmin (tố phương hoa, hay hoa nhài), nhưng có lẽ là hoa gardenia (chi tử, hay dành dành) được trồng rộng rãi ở Nhật

Note:
没倫紹等 (墨斎) 筆 梅図
Một Luân Thiệu Đẳng (Mặc Trai) Bút Mai Đồ

Plum Branch — Yi Yu-won

Yi Yu-won, Plum Branch
Yi Yu-won, Plum Branch

Plum Branch
Yi Yu-won (Korean)

As one of the earliest trees to flower, the plum, a popular subject in painting, represents winter. The delicate but tenacious beauty of plum blossoms blanketed in late winter snow was taken by Confucian scholars as a metaphor for facing hardship with dignity and elegance. Yi Yu-won, a recognized painter, poet, and calligrapher as well as a distinguished scholar-official, served as prime minister under Emperor Gojong (reigned 1864–1907). In this work he skillfully juxtaposed the strong, angular strokes of the plum branch with thin, precise offshoots dotted with delicate blossoms. Painting on a gray background evocative of an overcast day, Yi created depth through the inclusion of a smaller branch whose shape echoes that of the main one in a lighter hue.

Source: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/40445

Cành Mai
Lí Dụ Nguyên (Triều Tiên)
(Võ Tấn Phát dịch)

Là một trong những loại cây nở hoa sớm nhất, mai – một chủ đề phổ biến trong hội họa – tượng trưng cho mùa đông. Vẻ đẹp mong manh nhưng bền bỉ của hoa mai bao phủ trong tuyết cuối đông đã được các sĩ phu Khổng Giáo lấy làm ẩn dụ cho việc bậc quân tử dù phải đối mặt với gian nan vẫn giữ tiết tháo và thanh nhã. Lí Dụ Nguyên, một họa sĩ, thi sĩ, và nhà thư pháp nổi tiếng, cũng là một sĩ phu và vị quan nổi danh, từng là tể tướng dưới triều Hoàng đế Cao Tông (trị vì 1864–1907). Trong tác phẩm này ông đã khéo léo kết hợp những nét gãy khúc, mạnh mẽ của cành mai với những nét chính xác của các nhành non mảnh dẻ điểm xuyết bằng những bông hoa mỏng manh. Vẽ trên nền xám gợi nên một ngày trời mây u ám, họa sĩ đã tạo ra chiều sâu bằng cách thêm vào một nhánh cây nhỏ có hình dáng như một phản hồi của nhánh chính với màu sắc nhạt hơn.

Nguồn: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/40445

Note:

이유원 매화도 조선
李裕元 梅花圖 朝鮮
Yi Yu-won Painting of Plum Blossom Korea
Lí Dụ Nguyên Mai Hoa Đồ Triều Tiên