Viewing Plum Blossoms by Moonlight — Ma Yuan

Viewing Plum Blossoms by Moonlight by Ma Yuan
Viewing Plum Blossoms by Moonlight

Ma Yuan

Crafted as carefully as the regulated verse of a Tang dynasty quatrain, Ma Yuan’s Viewing Plum Blossoms by Moonlight is a visual poem evoking a complex sense of time, place, and mood. The browns and blacks in the trees and rocks contrast with the light grayish hues of the cliff and mountain to suggest the mist-filled, moonlit atmosphere of an early spring evening. The thatch roof of a pavilion identifies the place as a garden setting. The white-robed gentleman, framed by the dark angular forms of the landscape, perfectly counterbalances the moon in its setting of limitless space. Recalling a yin-yang cosmic diagram with its implication of positive within negative, light within dark, solid within void, the painting may be read as an emblem of man’s dual nature: tied to the physical world, man’s spirit is not contained by it but, like the plum, reaches upward to partake of the infinite.

Source: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/44638

Dưới Trăng Ngắm Mai
Mã Viễn

Được vẽ cẩn thận như một bài tứ tuyệt Đường thi âm luật chặt chẽ, bức tranh Dưới Trăng Ngắm Mai của Mã Viễn là một bài họa-thi gợi nên cảm xúc phức tạp về thời gian, nơi chốn, và tâm trạng. Màu nâu và đen của cây và đá tương phản với sắc màu xám nhạt của vách đá và núi gợi tả bầu không khí sáng trăng phủ đầy sương của một buổi tối chớm xuân. Mái tranh của ngôi đình xác định đó là khung cảnh một khu vườn. Một văn nhân áo trắng, đóng khung trong những hình dạng góc cạnh của cảnh quan, đối trọng tuyệt hảo với vầng trăng trong khoảng không gian vô hạn. Gợi lại một họa đồ thái cực âm-dương với ngầm ý trong âm có dương, trong tối có sáng, trong hư có thực, bức tranh như một biểu tượng về tính nhị nguyên của con người: bị cột chặt vào thế giới vật chất, nhưng tinh thần của con người lại không bị cầm tù trong đó, mà như cội mai, vươn lên để hoà vào với vô hạn.

Nguồn: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/44638

Note:
南宋 馬遠 月下賞梅圖 團扇

Southern Song Dynasty Ma Yuan Under the Moon Viewing Plum Blossoms Painting for a Round Fan

Nam Tống Mã Viễn Nguyệt Hạ Thưởng Mai Đồ Đoàn Phiến

Coastal Rocks

Cannon Beach, Oregon January 1, 2022
Cannon Beach, Oregon January 1, 2022


Coastal Rocks

Phat Vo

There is a joke among suiseki collectors: if you don’t know what to do with a stone, call it a coastal rock.

Recently Lisa and I have travelled a lot along US Pacific Coast, and we’re seen many coastal rocks, and they are beautiful. That makes me think a little harder about coastal rocks as a type of suiseki.

Categorically, iwagata-ishi or coastal rock stones suggest (1) a high, wind-swept rocky coastline, (2) tall, rough offshore rock, (3) steep cliff at end of a peninsula; white mineral deposits at base is prized, suggesting waves breaking against cliffs.[1]

We don’t have any coastal rock suiseki. If we have a good stone that resembles a coastal rock, we immediately think of a near mountain, or a distant mountain, or an island. The joke just imprints in our minds the unseriousness of coastal rock. And it’s sad. By ignoring this category totally we might have missed a very good coastal rock, because we might have considered it bad mountain stone, for example.

And it’s also sad that many people approach the art of suiseki because it seems easy. While it’s joyful to collect rocks for suiseki, we probably need to think of suiseki as a very serious business. After all, the ones who started the suiseki clubs in the USA thought so. Richard Ota: “It has been said in Japan that the full appreciation of Sui-seki can be acquired only after one has cultivated and acquired reverence and appreciation for ancient writings, objects d-arte, paintings and bonsai.” [2] Another master, Keiseki Hirotsu, said: “true suiseki admirers were the people who understood Zen Buddhism, but for some mysterious reason, became attracted to stones and eventually finding a peaceful world of stillness, nothingness, and tranquility in solitude, which is the world of Zen Buddhism.”[3]

Note:
[1] https://www.suiseki.com/classifications/japanese.html
[2] Richard Ota, Sui-seki
http://www.aisekikai.com/resources/june+newsletter+09.pdf
[3] Hideko Metaxas, Suiseki Philosophy
Golden Statements, November/December 2001

Included in Aiseki Kai January 2022 newsletter:
http://aisekikai.com/resources/January+newsletter+22.pdf

Rialto Beach, Washington September 8, 2020
Rialto Beach, Washington September 8, 2020

Đá ven bờ biển
Võ Tấn Phát

Có một câu nói đùa trong giới sưu tầm thủy thạch: nếu có hòn đá nào mà không biết loại gì, thì xếp cho nó vào loại đá ven bờ biển.

Gần đây Trang và tôi thường đi vân du dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của nước Mỹ, nhìn thấy nhiều tảng đá ven bờ biển, và những tảng đá này rất đẹp. Những cảnh đó làm tôi nghĩ kỹ lại quan niệm riêng của mình về loại đá bờ biển.

Theo cách xếp loại, thì iwagata-ishi (nham tích thạch) hay đá bờ biển gợi ra (1) núi đá cao sát biển hứng chịu nhiều phong ba, (2) tảng đá cao ngoài biển gần bờ, (3) dốc đá ở tận cùng của bán đảo; nếu có khoáng thạch trắng ở chân hòn đá thì càng quý, vì gợi ra hình ảnh sóng đánh vào vách đá.[1]

Chúng tôi không có hòn thủy thạch dạng đá bờ biển nào cả. Nếu chúng tôi tìm được hòn đá đẹp mà hơi giống đá ven biển, thì ngay lập tức chúng tôi xếp vào loại hoặc núi gần, hoặc núi xa, hoặc hải đảo. Câu nói đùa cợt đã in vào trí óc chúng tôi niềm tin rằng đá ven bờ biển không đáng để tâm. Và điều đó thật đáng tiếc. Khi hoàn toàn bỏ qua loại đá này, chúng tôi có lẽ đã bỏ qua một viên đá rất đẹp dạng đá bờ biển, chỉ vì chúng tôi nhìn thấy một viên đá hình núi xấu, chẳng hạn.

Và cũng đáng buồn khi nhiều người đến với môn thủy thạch vì dường như nó dễ dàng. Trong khi thủy thạch mang lại niềm vui, chúng ta có lẽ nên coi đó là một nghệ thuật nghiêm túc. Rốt cuộc thì những người khởi đầu các hội thủy thạch ở Mỹ đều nghĩ như vậy. Richard Ota: “Ở Nhật bản người ta cho rằng một người chỉ thấu hết cái đẹp của thuỷ thạch khi nào y trau dồi, thực lòng sùng mộ, và cảm nhận được thư pháp cổ nhân, tác phẩm mỹ thuật, tranh và cây cảnh.”[2] Một bậc thầy khác, Keiseki Hirotsu, đã nói rằng: “Một người yêu thủy thạch là một người thấu hiểu Phật Giáo Thiền Tông, nhưng vì một lý do bí ẩn nào đó, bị đá hút hồn rồi cuối cùng tìm thấy một thế giới bình an của thinh lặng, của cái không, của niềm an lạc trong cô tịch, vốn là thế giới của Phật Giáo Thiền Tông.”[3]

Chú thích:
[1] https://www.suiseki.com/classifications/japanese.html
[2] Richard Ota, Thuỷ Thạch
http://www.aisekikai.com/resources/june+newsletter+09.pdf
[3] Hideko Metaxas, Minh Triết của Thuỷ Thạch
Golden Statements, November/December 2001

Bài viết đăng ở nguyệt san của Ái Thạch Hội tháng 1 năm 2022:
http://aisekikai.com/resources/January+newsletter+22.pdf

Pericles’ Funeral Oration – Thucydides

Bust of Pericles bearing the inscription "Pericles, son of Xanthippus, Athenian". Marble, Roman copy after a Greek original from c. 430 BC, Museo Pio-Clementino, Vatican Museums
Bust of Pericles bearing the inscription “Pericles, son of Xanthippus, Athenian”. Marble, Roman copy after a Greek original from c. 430 BC, Museo Pio-Clementino, Vatican Museums


Điếu văn của Pericles

Thucydides
Võ Tấn Phát dịch (từ bản dịch Anh ngữ của Benjamin Jowett)

Hầu hết những ai diễn thuyết ở nơi này trước tôi, đều tán dương nhà lập pháp đã thêm việc đọc điếu văn này vào tang lễ. Theo họ thì một vinh dự như thế là xứng đáng được trao trong tang lễ cho những người đã ngã xuống trên chiến trường. Nhưng tôi thà rằng, khi hành động của họ là dũng cảm, thì họ phải được vinh danh chỉ bằng hành động cụ thể, và với một danh dự như lễ quốc táng này, mà quý vị đang chứng kiến. Khi đó thanh danh của nhiều người sẽ không bị phụ thuộc vào tài năng hay thiếu tài năng hùng biện của một người, và đức hạnh của họ sẽ được tin tưởng không phụ thuộc vào diễn giả nói hay hoặc tồi. Bởi vì nói quá ít hay quá nhiều đều dở; và ngay cả nói vừa phải cũng không tạo ấn tượng là thật lòng. Bạn của người đã mất vốn biết sự thật có lẽ tin rằng lời của diễn giả không đầy đủ với kiến thức và mong muốn của anh ta; với người khác không biết nhiều, khi anh ta nghe những điều vượt quá khả năng mình, sẽ ganh tị và nghi ngờ có phóng đại. Nhân loại còn chịu được những lời tán dương những người khác chừng nào mà mỗi thính giả nghĩ rằng mình có thể làm được bằng như hoặc gần bằng thế, nhưng, khi diễn giả kể những điều vượt quá sức anh ta, lòng ganh tị sẽ nổi lên và anh ta bắt đầu hoài nghi. Tuy nhiên, vì cha ông chúng ta đã chấp thuận tập tục này, tôi phải tuân theo, và sẽ làm hết khả năng để làm vừa lòng những hoài vọng và tin tưởng của tất cả thính giả đang lắng nghe tôi.

Tôi sẽ nói về tổ tiên của chúng ta trước nhất, vì đó là chuyện đúng đắn và thích đáng lúc này, khi chúng ta khóc than người chết, chúng ta phải tưởng niệm họ. Không lúc nào họ không có mặt ở mảnh đất này, nơi mà bằng lòng dũng cảm họ đã trao truyền từ đời này sang đời khác, và chúng ta đón nhận từ họ một quốc gia tự do. Nhưng nếu họ đáng được tán dương, thì những người cha của chúng ta càng xứng đáng hơn nữa, vì họ đã thêm vào tài sản họ thừa kế, và sau nhiều đấu tranh đã trao cho chúng ta con cái của họ đế quốc vĩ đại này. Và chính chúng ta tập hợp ở đây hôm nay, hầu hết chúng ta đều tràn đầy sức sống, đang tiếp tục công cuộc phát triển nhiều hơn nữa, và trang bị đầy đủ cho thành quốc của chúng ta, để nó sẵn sàng cả trong hòa bình lẫn chiến tranh. Về những thành tích chiến trận từ đó những tài sản đất đai chiếm hữu được, hoặc về năng lực mà chúng ta hay cha chúng ta đã đẩy lùi cơn hồng thủy chiến tranh, với người Hy Lạp hay kẻ man di, tôi sẽ không kể ra; bởi vì câu chuyện sẽ dài và quen thuộc với quý vị. Nhưng trước khi tôi tán dương người đã mất, tôi muốn chỉ ra bằng những nguyên tắc hành động nào mà chúng ta đã trở nên hùng mạnh, và dưới những thể chế nào và qua lối sống thế nào mà đế quốc của chúng ta đã trở nên vĩ đại. Vì tôi tin những ý nghĩ đó là phù hợp trong dịp này, và đông đảo công dân và người ngoại quốc có thể được lợi ích khi lắng nghe chúng.

Mô hình chính quyền của chúng ta không cạnh tranh với các thể chế khác. Chính quyền của chúng ta không sao chép các lân bang, mà là một mẫu mực cho họ. Đúng là chúng ta được gọi là chế độ dân chủ, vì chính quyền nằm trong tay của đa số chứ không phải thiểu số. Nhưng trong khi luật pháp thì bình đẳng cho tất cả và như nhau trong những tranh chấp cá nhân, hiền tài xuất chúng cũng được công nhận; và khi một công dân bằng cách nào đó nổi bật lên, thì anh ta được ưu tiên vào công vụ, không phải như một đặc quyền, mà là tưởng thưởng cho tài năng. Nghèo khó cũng không phải là một rào cản, và một người có thể làm lợi cho quốc gia mình không cần biết xuất thân thế nào. Không ai bị loại trừ khỏi hoạt động xã hội, và trong đời sống riêng tư chúng ta không nghi kỵ nhau, cũng không giận giữ với láng giềng nếu y làm chuyện y thích; chúng ta không trừng mắt nhìn y mà, dù không có hại gì, cũng không dễ chịu lắm. Trong khi chúng ta không bị hạn chế trong đời sống riêng tư, tinh thần tôn trọng lan tỏa trong những hành xử công cộng của chúng ta; chúng ta được ngăn ngừa làm điều sai quấy do tôn kính nhà cầm quyền và luật pháp, đặc biệt là quan tâm đến những ban hành nhằm bảo vệ người bị thương tổn cũng như  những luật bất thành văn mà người vi phạm sẽ chịu chê trách của công luận.

Và chúng ta không quên lo liệu cho tinh thần mệt mỏi của chúng ta bằng nhiều thứ giải trí sau những lao động cực nhọc; chúng ta có những lễ hội và tế lễ thường kỳ trong cả năm; nhà cửa chúng ta đẹp và thanh nhã; và sự vui thích chúng ta ngày ngày dành cho những thứ này giúp xua đuổi ưu phiền. Vì sự vĩ đại của thành quốc chúng ta, thành quả trên khắp thế giới đến với chúng ta; vì thế chúng ta hưởng được của sản phẩm các quốc gia khác cũng dễ dàng như sản phẩm của chúng ta.

Và, thêm nữa, huấn luyện quân sự của chúng ta trong nhiều khía cạnh cũng tốt hơn những kẻ thù nghịch. Thành quốc chúng ta mở ngỏ ra thế giới, và chúng ta chưa hề trục xuất một ngoại nhân và cấm y nhìn hay học bất cứ thứ gì trừ bí mật quốc phòng. Chúng ta không dựa vào kiểm soát hay mưu mô, mà vào trái tim và bàn tay chúng ta. Và trong vấn đề giáo dục, trong khi bọn họ từ lúc trẻ đã luôn được tập luyện gian khổ để trở nên dũng mãnh, thì chúng ta sống nhàn nhã, và cũng sẵn lòng đối diện hiểm họa như họ.  Và đây là bằng chứng: những người Lacedaemonians đến lãnh thổ của Athen không chỉ riêng bọn họ, mà toàn bộ một liên minh; chúng ta tự mình tiến vào một nước láng giềng; và mặc dù đối thủ chúng ta bảo vệ quê nhà và chúng ta vào đất lạ, chúng ta hiếm khi gặp khó khăn trong việc chiến thắng họ. Những kẻ thù nghịch chưa hề hứng chịu sức mạnh đoàn kết của chúng ta, vì coi sóc thủy quân tốn một phần công sức của chúng ta, và trên lục địa chúng ta phải gởi quân ta khắp chốn. Nhưng bọn họ, nếu đối trận và chiến thắng một phần quân ta, thì tự đắc như đã chiến thắng tất cả chúng ta, còn khi thua trận thì vờ vĩnh là đã thua tất cả chúng ta vậy.

Như thế nếu chúng ta thích đối diện hiểm nguy với tâm thư thái mà không cần huấn luyện gian khổ, và với lòng dũng cảm có được do thói quen chứ không phải do luật pháp trói buộc, chẳng phải chúng ta vĩ đại hơn sao? Tuy chúng ta không biết trước nhọc nhằn, dù vậy, khi thời khắc đến, chúng ta có thể dũng cảm như những kẻ không bao giờ cho phép mình ngơi nghỉ; như thế thành quốc chúng ta đáng khâm phục cả trong hòa bình lẫn chiến tranh. Bởi vì chúng ta những kẻ yêu cái đẹp, và sức mạnh của chúng ta, theo suy nghĩ của chúng ta, không nằm trong sự cân nhắc và thảo luận, mà nằm trong kiến thức có được do thảo luận để sửa soạn hành động. Vì chúng ta có một năng lực suy tính đặc biệt trước khi chúng ta hành động, và năng lực hành động nữa, trong khi đó những kẻ khác can đảm do ngu dốt và do dự khi suy tư. Và chắc chắn đáng được kính trọng vì tinh thần dũng cảm nhất là những người, khi biết rõ cả sự đau khổ lẫn niềm vui cuộc sống, không chùn bước trước hiểm nguy. Trong khi làm việc tốt, lại nữa, chúng ta không giống bọn họ; chúng ta kết bạn bằng tặng quà, không phải nhận quà. Này, một người tặng quà là một người bạn vững chãi hơn, bởi vì anh ta thà rằng, bằng lòng tốt, nuôi sống một lòng biết ơn; nhưng người nhận quà thì tình cảm nguội lạnh hơn, bởi vì y biết khi đền đáp lại sự hào phóng của người kia y sẽ không nhận được lòng biết ơn mà chỉ đơn giản là trả lại một món nợ. Riêng chúng ta làm điều tốt cho láng giềng không phải do tính toán lời lãi, mà vào sự tin tưởng vào tự do và vào tinh thần ngay thẳng và vô úy. Tổng kết lại: tôi cho rằng Athens là ngôi trường của người Hy Lạp, và rằng chính mỗi người Athens dường như tự mình có năng lực thích nghi với những hoạt động khác nhau nhất với sự linh hoạt và uyển chuyển nhất. Đây không phải là lời nói qua loa và vu vơ, mà là chân lý và sự kiện có thật; và điều khẳng định này được chứng minh bởi chứng tích những phẩm chất này đã dựng xây thành quốc này. Vì trong những giờ phút thử thách một mình Athens nổi bật hơn hẳn giữa những quốc gia đương thời. Không kẻ thù nghịch nào phẫn nộ vì thua trận một thành quốc như thế; không có thuộc địa nào kêu ca rằng chủ nhân là không xứng đáng với nó. Và chúng ta chắc chắn không phải là không có nhân chứng; sức mạnh vĩ đại của chúng ta sẽ là kỳ tích cho thế hệ này và những thế hệ kế tiếp; chúng ta sẽ không cần những tán dương của Homer hay bất kỳ ai, mà những vần thơ của họ có thể làm đẹp lòng trong khoảng khắc này, dù cho sự thật trong đó không đáng tin cậy.  Vì chúng ta bắt buộc các quốc gia phải mở cửa với lòng dũng cảm của ta, và ở mọi nơi đều đặt những đài kỷ niệm ghi nhận tình bạn và sự  thù nghịch của chúng ta. Đấy là cái thành quốc vì nó những người này đã chiến đấu và hy sinh; họ không thể chịu nổi cái ý nghĩ rằng nó sẽ bị mất đi từ tay họ; và mỗi người còn sống trong số chúng ta sẽ vui vẻ hy sinh vì nó.

Tôi đã dừng lại để nói về sự vĩ đại của Athens vì tôi muốn cho quí vị thấy rằng chúng ta chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp hơn hẳn những ai không hưởng được những đặc ân này, và xác lập bằng chứng cớ rõ ràng công lao của những người hôm nay tôi đang tưởng nhớ. Lời tán dương cao quý nhất dành cho họ đã được nói ra. Vì trong khi tán dương thành quốc tôi đã tán dương họ, và những người như họ mà đức hạnh đã làm vinh quang thành quốc. Và có bao nhiêu người Hy Lạp được như họ, mà khi được đem lên bàn cân thì hành động cũng sánh ngang với danh tiếng của họ! Tôi tin rằng những hy sinh như họ là thước đo thực sự giá trị của một người; nó có thể là biểu lộ lần đầu tiên đức hạnh của họ, nhưng dù thế nào cũng là dấu ấn cuối cùng. Bởi vì ngay cả những ai có sai lầm trong những điều khác cũng có thể gỡ lại một cách chính đáng bằng lòng dũng cảm khi chiến đấu cho quốc gia; họ đã xóa đi cái xấu bằng cái tốt, và làm lợi cho quốc gia bằng việc công hơn là làm hại quốc gia bằng những việc tư. Không người nào trong họ bị yếu mềm do tài sản hay do dự khi từ bỏ hoan lạc đời sống; không ai trong số họ từ bỏ những ngày đau khổ với hy vọng, điều này là tự nhiên cho người nghèo khó, rằng một người dù nghèo, có thể một ngày nào đó trở nên giàu có. Nhưng, vì coi việc trừng phạt kẻ thù đáng hơn những điều này, và rằng họ không thể hy sinh vì một mục đích cao cả hơn, họ đã quyết định đem tính mạng để rửa nhục, và rời bỏ tất cả. Họ từ bỏ một cơ hội được hạnh phúc; nhưng đối diện với cái chết họ quyết tâm chỉ dựa vào chính mình. Và khi thời điểm đến họ thà kháng cự và chịu gian lao, còn hơn là bỏ chạy và giữ tính mạng; họ bỏ đi trước những lời nhục mạ, nhưng trên chiến trường họ đứng vững chãi, và trong thoáng chốc, ở đỉnh điểm của vận mệnh, họ biến mất, không phải khỏi nỗi sợ hãi, mà khỏi sự vinh quang của họ.

Đấy là kết cục của những người này; họ xứng đáng với Athens, và người sống không thể mong ước có một tinh thần anh dũng hơn, mặc dù họ có thể cầu mong cho một kết cuộc ít thảm khốc hơn. Giá trị của một tinh thần như thế không thể diễn đạt bằng lời. Bất kỳ ai cũng có thể kể dài dòng với quý vị về những ưu điểm của một cuộc phòng thủ anh hùng, và quý vị đã biết rồi. Nhưng thay vì lắng nghe anh ta nói gì, tôi muốn quý vị ngày ngày chú tâm vào sự vĩ đại của Athens, đến khi nào quý vị tràn ngập tình yêu nước; và khi quý vị được khắc sâu bằng hình ảnh vinh quang của thành quốc, hãy biết rằng đế quốc này được tạo lập bởi những người biết rõ trách nhiệm của mình và có can đảm thực hiện nó, những người mà trong giờ phút lâm trận, nỗi lo bị ô danh thường trực hiện diện, và họ, dù có lúc nào đó thất bại trong việc riêng, không cho phép đức hạnh của họ bị đánh mất khi đất nước nguy nan, mà tự nguyện cống đời mình như một món quà đẹp nhất cho đất nước. Những hy sinh mà tất cả họ đồng lòng hiến dâng, đã được đền đáp cho từng người một; bởi vì mỗi người trong số họ sẽ nhận được lời tán dương vĩnh viễn không bao giờ cũ, và ngôi mộ cao quý nhất, tôi không nói về nơi mà thân xác họ được chôn cất, mà là nơi mà thanh danh của họ sống mãi, và được vinh danh mãi mãi trong những dịp lễ bằng cả lời nói lẫn việc làm. Bởi vì cả thế gian này là ngôi mộ của những anh hùng; không những họ được tưởng nhớ bằng trụ cao và chữ khắc ở đất nước họ, mà trong những mảnh đất xa lạ cũng có những đài tưởng niệm bất thành văn cho họ, không phải trên đá mà trong tâm trí của người dân. Hãy noi gương họ, và, khi mà lòng dũng cảm đáng kính đó là để đạt được tự do và tự do là để đạt được hạnh phúc, đừng chùn bước trước hiểm họa chiến tranh. Những người thiếu may mắn, vốn có ít hy vọng đổi đời, sẽ có ít lý do để liều mạng bằng một người giàu có, mà nếu sống sót, thì có nhiều khả năng phải đối diện với đời sống khó khăn hơn, và với họ chỉ một lúc yếu lòng cũng mang đầy hệ lụy nguy hiểm. Vì với một người dũng cảm, hèn nhát và thảm họa mà đồng hành thì cay đắng hơn nhiều so với cái chết ập đến bất ngờ ngay vào lúc anh ta tràn đầy dũng khí và sục sôi hy vọng.

Vì vậy giờ đây tôi không đem lòng thương cảm các bậc cha mẹ của những người đã mất hiện đang ở nơi đây; tôi thà là ủy lạo họ. Quý vị biết rằng những người mất đã ra đi qua muôn vàn thăng trầm; và rằng họ có lẽ được coi như may mắn khi đạt được danh dự tột đỉnh, hoặc bằng cái chết trong danh dự của họ, hoặc bằng nỗi buồn đau đáng kính của quý vị, và cuộc tử sinh của họ đã được sắp đặt chính xác, để họ sống trong hạnh phúc và ra đi trong hạnh phúc. Tôi hiểu sự đau khổ quý vị đang gánh chịu, khi sự may mắn của người khác sẽ thường xuyên gợi lại niềm vui đã từng thắp sáng trái tim quý vị. Và nỗi đau buồn chính là niềm mong ước những phước lành đó, không phải những thứ mà một người chưa từng biết, mà những thứ từng là một phần trong đời sống của người đó cho đến khi bị tước đoạt mất. Một số trong quý vị đang ở độ tuổi hy vọng sẽ có những đứa con khác, và họ sẽ chịu đựng nỗi đau này dễ dàng hơn; không những những đứa con được sinh ra sau này sẽ làm họ quên đi những đứa con đã mất, mà thành quốc cũng được lợi ích gấp bội. Thành quốc sẽ không bị bỏ mặc, mà sẽ an toàn hơn. Bởi vì lời khuyên của một người không thể có trọng lượng và giá trị, nếu người đó không có con cái sẵn sàng hy sinh vì hiểm họa chung. Với những ai đã quá tuổi, tôi xin nói rằng: Hãy vui mừng vì quý vị đã hạnh phúc trong phần lớn cuộc đời quý vị; và hãy nghĩ rằng đời sống đau buồn còn lại của quý vị sẽ không còn lâu, và được an ủi bởi danh dự của những người đã khuất. Bởi vì lòng yêu chuộng danh dự sẽ trẻ mãi không già, và không phải sự giàu có, như người ta thường nói, mà danh dự mới là niềm vui của nam nhi khi già nua và vô dụng.

Với quý vị, con cái anh em của những người đã mất, tôi nghĩ rằng cố gắng noi gương họ là một việc khó khăn. Bởi vì mọi người đều tán dương những người đã mất, và dù đức hạnh của quý vị có ưu việt đến đâu, tôi không nghĩ có thể đạt được như họ, nói chi tới mức sánh bằng hay vượt qua họ; khi một người đã mất, danh dự và thiện chí cho người đó là thuần khiết (không giả tạo). Và nếu tôi phải nói về đức hạnh của phụ nữ cho những người sẽ là goá phụ, tôi xin tóm tắt bằng một lời khuyên ngắn gọn: với phụ nữ, không để lộ sự mềm yếu quá mức bình thường của nữ giới là danh dự lớn lao, và không để nam giới đàm tiếu dù là tốt hay xấu.

Tôi đã làm xong nhiệm vụ tưởng niệm người đã mất, tuân theo luật pháp, với những ngôn từ thích hợp. Món nợ đã được trả xong một phần bằng buổi lễ tưởng niệm này; bởi vì chúng ta nợ những người đã mất, và điều còn lại cần làm là con cái của họ sẽ được nuôi dạy bằng công quỹ đến khi chúng trưởng thành: đây là phần thưởng thực thụ mà, cùng với vòng nguyệt quế, thành quốc Athens đeo cho những nam nhi còn sống hay đã chết, sau mỗi chiến công. Bởi vì nơi nào mà đức hạnh được tưởng thưởng nhiều nhất, thì ở đó những công dân cao thượng nhất sẽ đăng ký để phục vụ quốc gia. Và giờ đây, quý vị đã tiếc thương thích đáng những người đã mất, quý vị có thể ra về.

Pericles's Funeral Oration by Philipp Foltz
Pericles’s Funeral Oration by Philipp Foltz

Nguồn: http://hrlibrary.umn.edu/education/thucydides.html

Có tham khảo các bản dịch khác:

https://en.m.wikisource.org/wiki/Pericles%27s_Funeral_Oration

No Man is an Island — John Donne

Donne’s portrait by Isaac Oliver
Donne’s portrait by Isaac Oliver

No Man is an Island
John Donne

No man is an island entire of itself; every man
is a piece of the continent, a part of the main;
if a clod be washed away by the sea, Europe
is the less, as well as if a promontory were, as
well as any manor of thy friends or of thine
own were; any man’s death diminishes me,
because I am involved in mankind.
And therefore never send to know for whom
the bell tolls; it tolls for thee.

Olde English Version

No man is an Iland, intire of itselfe; every man
is a peece of the Continent, a part of the maine;
if a Clod bee washed away by the Sea, Europe
is the lesse, as well as if a Promontorie were, as
well as if a Manor of thy friends or of thine
owne were; any mans death diminishes me,
because I am involved in Mankinde;
And therefore never send to know for whom
the bell tolls; It tolls for thee.

MEDITATION XVII
Devotions upon Emergent Occasions
John Donne

Source: https://web.cs.dal.ca/~johnston/poetry/island.html

John Donne (1572–1631) was an English poet, scholar, soldier, secretary, and cleric.

A portrait of Donne as a young man, c. 1595, in the National Portrait Gallery, London
A portrait of Donne as a young man, c. 1595, in the National Portrait Gallery, London

Không Ai Là Hải Đảo
John Donne
Võ Tấn Phát dịch

Không ai là hải đảo tự thân; mỗi người
là một phần của lục địa, một phần của tổng thể;
nếu một hòn đất bị biển cuốn trôi, Âu Châu
sẽ nhỏ hơn, cũng thế nếu một mỏm đất bị trôi đi, cũng
như thế nếu thái ấp của bằng hữu hay của chính
bản thân ngươi; cái chết của bất kỳ ai cũng làm ta bé lại,
bởi vì ta là một phần nhân loại.
Và vì vậy đừng bao giờ hỏi
chuông gọi hồn ai; chuông gọi hồn ngươi đó.

A Song for Autumn — Mary Oliver

Vo-Dinh, painting on rock, WxH 7x5 in. Gift from a friend
Vo-Dinh, painting on rock, WxH 7×5 in. Gift from a friend


A Song for Autumn

Mary Oliver

Don’t you imagine the leaves dream now
   how comfortable it will be to touch
the earth instead of the
   nothingness of the air and the endless
freshets of wind? And don’t you think
   the trees, especially those with
mossy hollows, are beginning to look for

the birds that will come—six, a dozen—to sleep
   inside their bodies? And don’t you hear
the goldenrod whispering goodbye,
   the everlasting being crowned with the first
tuffets of snow? The pond
   stiffens and the white field over which
the fox runs so quickly brings out
   its long blue shadows. The wind wags
its many tails. And in the evening
   the piled firewood shifts a little,
longing to be on its way.

A friend, whom I’ve never met and who wished to remain anonymous, knowing I love rocks and Vo-Dinh’s art, gifted me with this painting on a small slab of rock by Vo-Dinh. Many thanks!

Thu Ca
Mary Oliver
Võ Tấn Phát dịch

Bạn có hình dung lá đang mơ màng
   sẽ dễ chịu biết bao khi chạm
đất thay vì
   hư vô không khí và vô tận
gió? Và bạn có nghĩ rằng
   cây, đặc biệt là cây có
hõm xanh rêu, đang bắt đầu mong ước

chim sẽ đến—sáu, hay chục con—đến ngủ
   trong lòng cây? Bạn có nghe
kim cúc thì thầm lời từ biệt,
   cúc trường sinh đội
những bụi tuyết đầu mùa? Ao
   đông cứng và trên cánh đồng trắng xoá
cáo chạy nhanh để lại
   những bóng dài màu lam. Gió vẫy
nhiều cái đuôi. Và đêm đến
   đống củi xê dịch chút đỉnh
chờ mong vô lò sưởi.

Một người bạn, chưa bao giờ gặp và không muốn ai biết tên, biết mình thích đá và thích tranh Võ Đình, đã tặng bức tranh Võ Đình vẽ trên đá này. Cảm ơn vô cùng!

The First Principle

Manpuku-ji Gate
Manpuku-ji Gate “The First Principle”


The First Principle

When one goes to Obaku temple in Kyoto he sees carved over the gate the words “The First Principle.” The letters are unusually large, and those who appreciate calligraphy always admire them as being a masterpiece. They were drawn by Kosen two hundred years ago.

When the master drew them he did so on paper, from which workmen made the larger carving in wood. As Kosen sketched the letters a bold pupil was with him who had made several gallons of ink for the calligraphy and who never failed to criticize his master’s work.

“That is not good,” he told Kosen after the first effort.

“How is that one?”

“Poor. Worse than before,” pronounced the pupil.

Kosen patiently wrote one sheet after another until eighty-four First Principles had been accumulated, still without the approval of the pupil.

Then, when the young man stepped outside for a few moments, Kosen thought: “Now is my chance to escape his keen eye,” and he wrote hurridly, with a mind free from disctraction. “The First Principle.”

“A masterpiece,” pronounced the pupil.

Kosen Shoton, Calligraphy “Ishi”, Sotheby’s
Kosen Shoton, Calligraphy “Ishi”, Sotheby’s

Zen Master Muju, Shaseki-shu (Collection of Stone and Sand)

Source: http://www.buddhism.org/collection-of-stone-and-sand/

Note:

Ōbaku-san Manpuku-ji (黄檗山萬福寺, Manpuku Temple on Mt. Ōbaku)

Kosen Shoton (高泉性敦) (1633-1695)

Manpuku-ji Gate “The First Principle”
Manpuku-ji Gate “The First Principle”


Đệ Nhất Đế

Đỗ Đình Đồng dịch

Khi một người bước chân đến đền Obaku ở Kyoto, nhìn thấy trên cổng đền bằng gỗ có chạm mấy chữ Đệ Nhất Đế. Chữ chạm to lớn lạ thường, và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn chiêm ngưỡng như là một kiệt tác. Những chữ này do Kosen vẽ hai trăm năm về trước.

Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó mà chạm lớn hơn vào gỗ.

Trong lúc Kosen phát họa trên giấy, một chú đệ tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến mấy bình để viết cho đẹp mới thôi, và chú luôn luôn phê bình tác phẩm của thầy chú. Chú nói với Kosen sau lần cố gắng thứ nhất của ông:

– Cái đó không đẹp.

– Cái này thế nào? Kosen hỏi. Chú đáp:

– Tệ. Xấu hơn cái trước.

Kosen kiên nhẫn viết từ tấm này đến tấm khác đến tám mươi bốn tấm. Đệ Nhất Đế chồng chất lên nhau thành đống, vẫn không thấy chú học trò mình đồng ý.

Rồi chú bé bước ra ngoài. Kosen nghĩ:

– Bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của nó, và Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng:

– Đệ Nhất Đế.

Chú bé bước vào reo lên:

– Một kiệt tác.

Thiền sư Vô Trú, Góp nhặt cát đá

Nguồn: http://www.daibi.vn/2011/11/gop-nhat-cat-da/

Ghi chú:

Ōbaku-san Manpuku-ji (黄檗山萬福寺) Hoàng Bách Sơn Vạn Phúc Tự – Chùa Vạn Phúc ở núi Hoàng Bách

Kosen Shoton (高泉性敦) (1633-1695) Cao Tuyền Tính Đôn

A Hermit Monk in the Mountains – Ikkyu Sojun

The Zen priest Ikkyū by Bokusai
Ikkyū by Bokusai (Motsurin Shōtō, 1412-1492) 43.7 x 26.1 cm. Important Cultural Property. Tokyo National Museum, Tokyo


A Hermit Monk in the Mountains

Ikkyu Sojun
Translation into English by John Stevens

I like it best when no one comes,
Preferring fallen leaves and swirling flowers for company.
Just an old Zen monk living like he should,
A withered plum tree suddenly sprouting a hundred blossoms.

John Stevens, Wild Ways: Zen Poems of Ikkyū. Boston, Mass. Shambhala, 1995

Source: https://phaphoan.ca/2021/09/23/kanshi-32-ikkyu-sojun-一休宗純-nhat-huu-tong-thuan

A wooden statue of Ikkyū at Shūon’an
A wooden statue of Ikkyū at Shūon’an

Ẩn Tăng trong Núi
Ikkyu Sojun
Võ Tấn Phát dịch (từ bản dịch Anh Ngữ)

Cửa thiền: không người lui tới,
Bằng hữu: lá rụng hoa rơi.
Lão tăng: an nhiên tự tại,
Mai khô: trăm nụ bỗng cười.

Cảm ơn một bạn FB, Tuệ Hỷ giúp sửa đổi “Cửa thiền: không người qua lại” thành “Cửa thiền: không người lui tới”.

Ikkyu Sojun (一休宗純) – Nhất Hưu Tông Thuần)

A portrait of Ikkyū with his famous red sword
A portrait of Ikkyū with his famous red sword

Hiking Mount Whitney

Trang and Phat At Mt. Whitney Peak
Trang and Phat At Mt. Whitney Peak

Hiking Mount Whitney – May 31, 2021

Our friend Janet Yeow won the Mt. Whitney permits for 4 on May 31, 2021, and asked us to join her. At 14,505ft (4421m) Mt. Whitney is the highest mountain in the contiguous US. How could we refuse that?

For training in Arizona we hiked Humphreys Peak on Sunday May 16, and hiked Kendrick Peak on Saturday May 22. Then we drove to Lone Pine, California, camped at Onion Valley Campground on May 29, and hiked up to Gilbert Lake. The next day we stayed at Whitney Portal and hiked up about 1.5 miles. On the trail we met Chris, a Mt. Whitney ranger who gave us several good tips on hiking Mt. Whitney.

On the big day May 31 we started the hike at 1:20AM. Janet went ahead, and Lisa and Phat walked up slowly due to altitude sickness. We got near Consultation Lake at dawn. At the Trail Camp we filtered the water, hiked up the crazy 99 switchbacks, then continued to the top. Janet got to the top around 11AM. Lisa and Phat got to the top around 12:45PM. One of us (guess who) was so excited that she asked her insignificant other to take pictures of her both front and back holding the Mt. Whitney sign, to make sure no one would mistake her for somebody else. We took many pictures, signed the guest book, chatted with others, shared our lunches with strangers, and enjoyed the views all around.

We descended pretty fast, and enjoyed the views we missed when we came up in the dark. We reached the Whitney Portal around 9:30PM, hiking 22 miles in 20+ hours. Janet was there waiting for us. She finished 2 hours earlier, went back to the hotel and took a shower, and drove to the trailhead waiting for us. What a friend!

We came back to Janet’s hotel, took showers, had dinner, then said goodbye to Janet, and took turns to drive home through the night.

The trip was fun. The weather was perfect. The scenery was breathtaking beyond words. And the hikers were cheerful, generous, and helpful. A young man saw that Lisa was having some hard time breathing, and he offered to share his water. Many people could not make it to the top due to altitude sickness, but were happy to point us to the right trail as we looked a little lost. Places like this do some good to our souls.

Leo núi Whitney – ngày 31 tháng 5 năm 2021

Bạn tụi mình Janet Yeow may mắn có được giấy phép leo núi Whitney vào ngày 31/5/2021 cho 4 người, và mời tụi mình cùng đi. Whitney cao 14,505ft (4421m) là ngọn núi cao nhất trong 48 tiểu bang lục địa của Mỹ. Nghe đã ham rồi, làm sao từ chối được.

Để tập luyện cho chuyến đi, ở Arizona tụi mình leo núi Humphreys ngày Chủ Nhật 16/5, leo núi Kendrick ngày Thứ Bảy 22/5. Rồi tụi mình lái xe tới thành phố Lone Pine ở California, cắm trại ở Onion Valley Campground vào này 29/5, và leo lên tới hồ Gilbert ở đó. Ngày hôm sau tụi mình tới Whitney Portal và leo lên khoảng 1.5 dặm. Trên đường tụi mình gặp Chris, một nhân viên kiểm lâm ở đó, và anh chàng cho biết nhiều thông tin bổ ích cho chuyến leo núi này.

Vào ngày trọng đại 31/5 tụi mình khởi hành lúc 1:20 sáng. Janet đi lên trước, còn Trang và Phát do bị khó thở ở độ cao, nên đi chậm hơn. Hai đứa mình tới gần hồ Consultation lúc hừng sáng. Ở Trail Camp tụi mình lấy nước hồ, lọc vào bình, tiếp tục leo lên 99 đường đèo lên núi, rồi tiếp tục leo tới đỉnh. Janet lên tới đỉnh núi lúc 11 giờ sáng, Trang và Phát leo tới đỉnh núi lúc 12:45 trưa. Một đứa tụi mình (đoán thử đứa nào) quá phấn khích nên bảo đứa ngu kia chụp hình cả phía trước lẫn phía sau cầm tấm bảng núi Whitney, để khỏi bị lẫn lộn với người khác. Tụi mình chụp hình, ký tên lên danh sách những người leo tới đỉnh, tán dóc với mọi người, chia sẻ thức ăn với người lạ, thưởng thức phong cảnh xung quanh.

Hai đứa xuống núi nhanh, thấy được những cảnh quan trên đường đi mà lúc đi lên tối trời không thấy được. Tụi mình về tới Whitney Portal lúc 9:30 tối, sau khi đi bộ 22 dặm trong vòng hơn 20 giờ. Cô bạn Janet đã ngồi chờ sẵn. Janet xuống núi trước đó 2 giờ, đã về khách sạn tắm rửa xong, rồi quay lại chờ tụi mình. Đúng là bạn tốt!

Hai đứa mình lái xe theo Janet về khách sạn, tắm rửa, ăn tối, tạm biệt Janet, rồi thay nhau lái xe suốt đêm về nhà.

Chuyến đi thật thú vị. Thời tiết tuyệt vời. Phong cảnh kỳ diệu không lời nào tả xiết. Những người leo núi rất vui vẻ, hào phóng, và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau. Một chàng trai trẻ thấy Trang khó thở, đem nước sớt bớt cho nàng. Nhiều người khác không thể lên tới đỉnh do say độ cao, cũng sẵn sàng chỉ đường khi tụi mình bị lạc. Đến những nơi chốn này hẳn làm người ta tốt hơn lên.

The Kizaemon Tea-bowl – Soetsu Yanagi

Kizaemon Tea-bowl
Kizaemon Tea-bowl

The Kizaemon Tea-bowl (excerpt)
Soetsu Yanagi

… For a long time I wished to see this Kizaemon bowl. I had expected to see that “essence of Tea”, the seeing eye of Tea masters, and to test my own perception; for it is the embodiment in miniature of beauty, of the love of beauty, of the philosophy of beauty, and of the relationship of beauty and life. It was within box after box, five deep, buried in wool and wrapped in purple silk.

When I saw it, my heart fell. A good Tea-bowl, yes, but how ordinary! So simple, no more ordinary thing could be imagined. There is not a trace of ornament, not a trace of calculation. It is just a Korean food bowl, a bowl. Moreover, that a poor man would use everyday – commonest crockery.

A typical thing for his use; costing next to nothing; made by a poor man; an article without the flavour of personality; used carelessly by its owner; bought without pride; something anyone could have bought anywhere and everywhere. That’s the nature of this bowl. The clay had been dug from the hill at the back of the house; the glaze was made with the ash from the hearth; the potter’s wheel had been irregular. The shape revealed no particular thought: it was one of many. The work had been fast; the turning was rough, done with dirty hands; the throwing slipshod; the glaze had run over the foot. The throwing room had been dark. The thrower could not read.  The kiln was a wrenched affair; the firing careless. Sand had stuck to the pot, but nobody minded; no one invested the thing with any dreams. It is enough to make one give up working as a potter.

But that is how it should be. The plain and unagitated, the uncalculated, the  harmless, the straightforward, the natural, the innocent, the humble, the modest: where does beauty lie if not in these qualities? The meek, the austere, the un-ornate – they are the natural characteristics that gain man’s affection and respect.

From The Unknown Craftsmen

Source: http://www.morningearthkorea.org/the-kizaemon-ido/

Bát trà Kizaemon
Soetsu Yanagi
Võ Tấn Phát dịch

… Đã từ lâu tôi mơ ước được dịp nhìn thấy cái bát Kizaemon này. Tôi mong đợi được thấy cái “bản chất của Trà” đó, con mắt thấu triệt của các bậc Trà sư, và để kiểm tra nhận thức của chính tôi; bởi vì nó là hiện thân thu nhỏ của cái đẹp, của tình yêu cái đẹp, của triết lý về cái đẹp, của quan hệ giữa cái đẹp và đời sống. Cái bát được cất trong nhiều hộp, năm cái tất cả, giữa những đống len và bọc trong lụa tím.

Vừa thấy nó, tôi đã yêu thích rồi. Một cái bát trà đẹp, đúng thế, nhưng quá đỗi bình thường! Đơn giản đến mức không thể tưởng tượng ra thứ gì bình thường hơn. Không một nét trang trí, không một chút tính toán. Nó chỉ là một cái bát cơm, một cái bát Hàn Quốc. Hơn nữa, là vật dụng hàng ngày của người nghèo – thứ đồ sành sứ thông thường nhất.

Một vật dụng thường ngày; giá cả gần như cho không; do người cùng đinh làm ra; một món đồ không chút cá tính nào; người chủ dùng chiếc bát một cách vô tâm; mua bát cũng không mừng vui gì; cái món người ta có thể mua ở khắp nơi chỗ nào cũng có. Bản chất của cái bát này là vậy. Đất sét đào lên từ ngọn đồi sau nhà; men gốm làm từ tro trong lò sưởi; bàn xoay thợ gốm không đều. Hình dáng không cho thấy suy tư gì cả: đây chỉ là một trong nhiều cái bát khác. Công việc diễn ra nhanh chóng; cú xoay rất thô, bằng đôi tay bẩn; nắn gốm cẩu thả; men chảy xuống chân cái bát. Phòng làm gốm thì tối. Người thợ gốm không biết chữ. Lò nung là chỗ cực hình; việc nung gốm rất vô tâm. Cát dính vào món đồ; nhưng chẳng ai tận tâm; không ai để ý làm món đồ với mơ ước gì. Nó có thể làm người thợ muốn bỏ luôn nghề làm gốm.

Nhưng nó phải như vậy. Mộc mạc và không nghi ngại, không tính toán, vô hại, thẳng thắng, tự nhiên, hồn nhiên, nhỏ nhoi, khiêm tốn: cái đẹp ở đâu nếu không phải trong những phẩm chất này? Nhẫn nhục, khắc khổ, không tô điểm – đấy là những phẩm chất tự nhiên được người đời quý trọng.

Kizaemon – 喜左衛門 – Hỉ Tả Vệ Môn

34D950D0-BE07-44D6-B415-1DDFBBE725CA

 

At Blackwater Pond – Mary Oliver

Little Pond, by Hagiwara Hideo, woodblock print
Little Pond, by Hagiwara Hideo, woodblock print


At Blackwater Pond

Mary Oliver

At Blackwater Pond the tossed waters have settled
after a night of rain.
I dip my cupped hands. I drink
a long time. It tastes
like stone, leaves, fire. It falls cold
into my body, waking the bones. I hear them
deep inside me, whispering
oh what is that beautiful thing
that just happened?

Blackwater Pond
https://www.bedlamfarm.com/2009/07/19/blackwater-pond-what-beautiful-thing-just-happened/

Art: Little Pond, by Hagiwara Hideo, woodblock print
https://collections.mfa.org/objects/524279

Ở Ao Nước Đen
Mary Oliver
Võ Tấn Phát dịch

Ở Ao Nước Đen nước bị quăng quật giờ đã lắng đọng
sau một đêm mưa.
Tôi khum tay vọc xuống nước. Tôi uống
thật lâu. Nước có vị
của đá, lá, và lửa. Nó chở cái lạnh
vào cơ thể tôi, đánh thức xương tủy. Tôi nghe chúng
sâu thẳm trong tôi, thì thầm
ôi điều tuyệt diệu gì
vừa xảy ra vậy?


Ao Nước Đen (Hắc Thuỷ Trì)
https://www.bedlamfarm.com/2009/07/19/blackwater-pond-what-beautiful-thing-just-happened/

Tranh: Cái Ao Nhỏ, tranh khắc gỗ của Hagiwara Hideo
https://collections.mfa.org/objects/524279