Coastal Rocks

Cannon Beach, Oregon January 1, 2022
Cannon Beach, Oregon January 1, 2022


Coastal Rocks

Phat Vo

There is a joke among suiseki collectors: if you don’t know what to do with a stone, call it a coastal rock.

Recently Lisa and I have travelled a lot along US Pacific Coast, and we’re seen many coastal rocks, and they are beautiful. That makes me think a little harder about coastal rocks as a type of suiseki.

Categorically, iwagata-ishi or coastal rock stones suggest (1) a high, wind-swept rocky coastline, (2) tall, rough offshore rock, (3) steep cliff at end of a peninsula; white mineral deposits at base is prized, suggesting waves breaking against cliffs.[1]

We don’t have any coastal rock suiseki. If we have a good stone that resembles a coastal rock, we immediately think of a near mountain, or a distant mountain, or an island. The joke just imprints in our minds the unseriousness of coastal rock. And it’s sad. By ignoring this category totally we might have missed a very good coastal rock, because we might have considered it bad mountain stone, for example.

And it’s also sad that many people approach the art of suiseki because it seems easy. While it’s joyful to collect rocks for suiseki, we probably need to think of suiseki as a very serious business. After all, the ones who started the suiseki clubs in the USA thought so. Richard Ota: “It has been said in Japan that the full appreciation of Sui-seki can be acquired only after one has cultivated and acquired reverence and appreciation for ancient writings, objects d-arte, paintings and bonsai.” [2] Another master, Keiseki Hirotsu, said: “true suiseki admirers were the people who understood Zen Buddhism, but for some mysterious reason, became attracted to stones and eventually finding a peaceful world of stillness, nothingness, and tranquility in solitude, which is the world of Zen Buddhism.”[3]

Note:
[1] https://www.suiseki.com/classifications/japanese.html
[2] Richard Ota, Sui-seki
http://www.aisekikai.com/resources/june+newsletter+09.pdf
[3] Hideko Metaxas, Suiseki Philosophy
Golden Statements, November/December 2001

Included in Aiseki Kai January 2022 newsletter:
http://aisekikai.com/resources/January+newsletter+22.pdf

Rialto Beach, Washington September 8, 2020
Rialto Beach, Washington September 8, 2020

Đá ven bờ biển
Võ Tấn Phát

Có một câu nói đùa trong giới sưu tầm thủy thạch: nếu có hòn đá nào mà không biết loại gì, thì xếp cho nó vào loại đá ven bờ biển.

Gần đây Trang và tôi thường đi vân du dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của nước Mỹ, nhìn thấy nhiều tảng đá ven bờ biển, và những tảng đá này rất đẹp. Những cảnh đó làm tôi nghĩ kỹ lại quan niệm riêng của mình về loại đá bờ biển.

Theo cách xếp loại, thì iwagata-ishi (nham tích thạch) hay đá bờ biển gợi ra (1) núi đá cao sát biển hứng chịu nhiều phong ba, (2) tảng đá cao ngoài biển gần bờ, (3) dốc đá ở tận cùng của bán đảo; nếu có khoáng thạch trắng ở chân hòn đá thì càng quý, vì gợi ra hình ảnh sóng đánh vào vách đá.[1]

Chúng tôi không có hòn thủy thạch dạng đá bờ biển nào cả. Nếu chúng tôi tìm được hòn đá đẹp mà hơi giống đá ven biển, thì ngay lập tức chúng tôi xếp vào loại hoặc núi gần, hoặc núi xa, hoặc hải đảo. Câu nói đùa cợt đã in vào trí óc chúng tôi niềm tin rằng đá ven bờ biển không đáng để tâm. Và điều đó thật đáng tiếc. Khi hoàn toàn bỏ qua loại đá này, chúng tôi có lẽ đã bỏ qua một viên đá rất đẹp dạng đá bờ biển, chỉ vì chúng tôi nhìn thấy một viên đá hình núi xấu, chẳng hạn.

Và cũng đáng buồn khi nhiều người đến với môn thủy thạch vì dường như nó dễ dàng. Trong khi thủy thạch mang lại niềm vui, chúng ta có lẽ nên coi đó là một nghệ thuật nghiêm túc. Rốt cuộc thì những người khởi đầu các hội thủy thạch ở Mỹ đều nghĩ như vậy. Richard Ota: “Ở Nhật bản người ta cho rằng một người chỉ thấu hết cái đẹp của thuỷ thạch khi nào y trau dồi, thực lòng sùng mộ, và cảm nhận được thư pháp cổ nhân, tác phẩm mỹ thuật, tranh và cây cảnh.”[2] Một bậc thầy khác, Keiseki Hirotsu, đã nói rằng: “Một người yêu thủy thạch là một người thấu hiểu Phật Giáo Thiền Tông, nhưng vì một lý do bí ẩn nào đó, bị đá hút hồn rồi cuối cùng tìm thấy một thế giới bình an của thinh lặng, của cái không, của niềm an lạc trong cô tịch, vốn là thế giới của Phật Giáo Thiền Tông.”[3]

Chú thích:
[1] https://www.suiseki.com/classifications/japanese.html
[2] Richard Ota, Thuỷ Thạch
http://www.aisekikai.com/resources/june+newsletter+09.pdf
[3] Hideko Metaxas, Minh Triết của Thuỷ Thạch
Golden Statements, November/December 2001

Bài viết đăng ở nguyệt san của Ái Thạch Hội tháng 1 năm 2022:
http://aisekikai.com/resources/January+newsletter+22.pdf

Pericles’ Funeral Oration – Thucydides

Bust of Pericles bearing the inscription "Pericles, son of Xanthippus, Athenian". Marble, Roman copy after a Greek original from c. 430 BC, Museo Pio-Clementino, Vatican Museums
Bust of Pericles bearing the inscription “Pericles, son of Xanthippus, Athenian”. Marble, Roman copy after a Greek original from c. 430 BC, Museo Pio-Clementino, Vatican Museums


Điếu văn của Pericles

Thucydides
Võ Tấn Phát dịch (từ bản dịch Anh ngữ của Benjamin Jowett)

Hầu hết những ai diễn thuyết ở nơi này trước tôi, đều tán dương nhà lập pháp đã thêm việc đọc điếu văn này vào tang lễ. Theo họ thì một vinh dự như thế là xứng đáng được trao trong tang lễ cho những người đã ngã xuống trên chiến trường. Nhưng tôi thà rằng, khi hành động của họ là dũng cảm, thì họ phải được vinh danh chỉ bằng hành động cụ thể, và với một danh dự như lễ quốc táng này, mà quý vị đang chứng kiến. Khi đó thanh danh của nhiều người sẽ không bị phụ thuộc vào tài năng hay thiếu tài năng hùng biện của một người, và đức hạnh của họ sẽ được tin tưởng không phụ thuộc vào diễn giả nói hay hoặc tồi. Bởi vì nói quá ít hay quá nhiều đều dở; và ngay cả nói vừa phải cũng không tạo ấn tượng là thật lòng. Bạn của người đã mất vốn biết sự thật có lẽ tin rằng lời của diễn giả không đầy đủ với kiến thức và mong muốn của anh ta; với người khác không biết nhiều, khi anh ta nghe những điều vượt quá khả năng mình, sẽ ganh tị và nghi ngờ có phóng đại. Nhân loại còn chịu được những lời tán dương những người khác chừng nào mà mỗi thính giả nghĩ rằng mình có thể làm được bằng như hoặc gần bằng thế, nhưng, khi diễn giả kể những điều vượt quá sức anh ta, lòng ganh tị sẽ nổi lên và anh ta bắt đầu hoài nghi. Tuy nhiên, vì cha ông chúng ta đã chấp thuận tập tục này, tôi phải tuân theo, và sẽ làm hết khả năng để làm vừa lòng những hoài vọng và tin tưởng của tất cả thính giả đang lắng nghe tôi.

Tôi sẽ nói về tổ tiên của chúng ta trước nhất, vì đó là chuyện đúng đắn và thích đáng lúc này, khi chúng ta khóc than người chết, chúng ta phải tưởng niệm họ. Không lúc nào họ không có mặt ở mảnh đất này, nơi mà bằng lòng dũng cảm họ đã trao truyền từ đời này sang đời khác, và chúng ta đón nhận từ họ một quốc gia tự do. Nhưng nếu họ đáng được tán dương, thì những người cha của chúng ta càng xứng đáng hơn nữa, vì họ đã thêm vào tài sản họ thừa kế, và sau nhiều đấu tranh đã trao cho chúng ta con cái của họ đế quốc vĩ đại này. Và chính chúng ta tập hợp ở đây hôm nay, hầu hết chúng ta đều tràn đầy sức sống, đang tiếp tục công cuộc phát triển nhiều hơn nữa, và trang bị đầy đủ cho thành quốc của chúng ta, để nó sẵn sàng cả trong hòa bình lẫn chiến tranh. Về những thành tích chiến trận từ đó những tài sản đất đai chiếm hữu được, hoặc về năng lực mà chúng ta hay cha chúng ta đã đẩy lùi cơn hồng thủy chiến tranh, với người Hy Lạp hay kẻ man di, tôi sẽ không kể ra; bởi vì câu chuyện sẽ dài và quen thuộc với quý vị. Nhưng trước khi tôi tán dương người đã mất, tôi muốn chỉ ra bằng những nguyên tắc hành động nào mà chúng ta đã trở nên hùng mạnh, và dưới những thể chế nào và qua lối sống thế nào mà đế quốc của chúng ta đã trở nên vĩ đại. Vì tôi tin những ý nghĩ đó là phù hợp trong dịp này, và đông đảo công dân và người ngoại quốc có thể được lợi ích khi lắng nghe chúng.

Mô hình chính quyền của chúng ta không cạnh tranh với các thể chế khác. Chính quyền của chúng ta không sao chép các lân bang, mà là một mẫu mực cho họ. Đúng là chúng ta được gọi là chế độ dân chủ, vì chính quyền nằm trong tay của đa số chứ không phải thiểu số. Nhưng trong khi luật pháp thì bình đẳng cho tất cả và như nhau trong những tranh chấp cá nhân, hiền tài xuất chúng cũng được công nhận; và khi một công dân bằng cách nào đó nổi bật lên, thì anh ta được ưu tiên vào công vụ, không phải như một đặc quyền, mà là tưởng thưởng cho tài năng. Nghèo khó cũng không phải là một rào cản, và một người có thể làm lợi cho quốc gia mình không cần biết xuất thân thế nào. Không ai bị loại trừ khỏi hoạt động xã hội, và trong đời sống riêng tư chúng ta không nghi kỵ nhau, cũng không giận giữ với láng giềng nếu y làm chuyện y thích; chúng ta không trừng mắt nhìn y mà, dù không có hại gì, cũng không dễ chịu lắm. Trong khi chúng ta không bị hạn chế trong đời sống riêng tư, tinh thần tôn trọng lan tỏa trong những hành xử công cộng của chúng ta; chúng ta được ngăn ngừa làm điều sai quấy do tôn kính nhà cầm quyền và luật pháp, đặc biệt là quan tâm đến những ban hành nhằm bảo vệ người bị thương tổn cũng như  những luật bất thành văn mà người vi phạm sẽ chịu chê trách của công luận.

Và chúng ta không quên lo liệu cho tinh thần mệt mỏi của chúng ta bằng nhiều thứ giải trí sau những lao động cực nhọc; chúng ta có những lễ hội và tế lễ thường kỳ trong cả năm; nhà cửa chúng ta đẹp và thanh nhã; và sự vui thích chúng ta ngày ngày dành cho những thứ này giúp xua đuổi ưu phiền. Vì sự vĩ đại của thành quốc chúng ta, thành quả trên khắp thế giới đến với chúng ta; vì thế chúng ta hưởng được của sản phẩm các quốc gia khác cũng dễ dàng như sản phẩm của chúng ta.

Và, thêm nữa, huấn luyện quân sự của chúng ta trong nhiều khía cạnh cũng tốt hơn những kẻ thù nghịch. Thành quốc chúng ta mở ngỏ ra thế giới, và chúng ta chưa hề trục xuất một ngoại nhân và cấm y nhìn hay học bất cứ thứ gì trừ bí mật quốc phòng. Chúng ta không dựa vào kiểm soát hay mưu mô, mà vào trái tim và bàn tay chúng ta. Và trong vấn đề giáo dục, trong khi bọn họ từ lúc trẻ đã luôn được tập luyện gian khổ để trở nên dũng mãnh, thì chúng ta sống nhàn nhã, và cũng sẵn lòng đối diện hiểm họa như họ.  Và đây là bằng chứng: những người Lacedaemonians đến lãnh thổ của Athen không chỉ riêng bọn họ, mà toàn bộ một liên minh; chúng ta tự mình tiến vào một nước láng giềng; và mặc dù đối thủ chúng ta bảo vệ quê nhà và chúng ta vào đất lạ, chúng ta hiếm khi gặp khó khăn trong việc chiến thắng họ. Những kẻ thù nghịch chưa hề hứng chịu sức mạnh đoàn kết của chúng ta, vì coi sóc thủy quân tốn một phần công sức của chúng ta, và trên lục địa chúng ta phải gởi quân ta khắp chốn. Nhưng bọn họ, nếu đối trận và chiến thắng một phần quân ta, thì tự đắc như đã chiến thắng tất cả chúng ta, còn khi thua trận thì vờ vĩnh là đã thua tất cả chúng ta vậy.

Như thế nếu chúng ta thích đối diện hiểm nguy với tâm thư thái mà không cần huấn luyện gian khổ, và với lòng dũng cảm có được do thói quen chứ không phải do luật pháp trói buộc, chẳng phải chúng ta vĩ đại hơn sao? Tuy chúng ta không biết trước nhọc nhằn, dù vậy, khi thời khắc đến, chúng ta có thể dũng cảm như những kẻ không bao giờ cho phép mình ngơi nghỉ; như thế thành quốc chúng ta đáng khâm phục cả trong hòa bình lẫn chiến tranh. Bởi vì chúng ta những kẻ yêu cái đẹp, và sức mạnh của chúng ta, theo suy nghĩ của chúng ta, không nằm trong sự cân nhắc và thảo luận, mà nằm trong kiến thức có được do thảo luận để sửa soạn hành động. Vì chúng ta có một năng lực suy tính đặc biệt trước khi chúng ta hành động, và năng lực hành động nữa, trong khi đó những kẻ khác can đảm do ngu dốt và do dự khi suy tư. Và chắc chắn đáng được kính trọng vì tinh thần dũng cảm nhất là những người, khi biết rõ cả sự đau khổ lẫn niềm vui cuộc sống, không chùn bước trước hiểm nguy. Trong khi làm việc tốt, lại nữa, chúng ta không giống bọn họ; chúng ta kết bạn bằng tặng quà, không phải nhận quà. Này, một người tặng quà là một người bạn vững chãi hơn, bởi vì anh ta thà rằng, bằng lòng tốt, nuôi sống một lòng biết ơn; nhưng người nhận quà thì tình cảm nguội lạnh hơn, bởi vì y biết khi đền đáp lại sự hào phóng của người kia y sẽ không nhận được lòng biết ơn mà chỉ đơn giản là trả lại một món nợ. Riêng chúng ta làm điều tốt cho láng giềng không phải do tính toán lời lãi, mà vào sự tin tưởng vào tự do và vào tinh thần ngay thẳng và vô úy. Tổng kết lại: tôi cho rằng Athens là ngôi trường của người Hy Lạp, và rằng chính mỗi người Athens dường như tự mình có năng lực thích nghi với những hoạt động khác nhau nhất với sự linh hoạt và uyển chuyển nhất. Đây không phải là lời nói qua loa và vu vơ, mà là chân lý và sự kiện có thật; và điều khẳng định này được chứng minh bởi chứng tích những phẩm chất này đã dựng xây thành quốc này. Vì trong những giờ phút thử thách một mình Athens nổi bật hơn hẳn giữa những quốc gia đương thời. Không kẻ thù nghịch nào phẫn nộ vì thua trận một thành quốc như thế; không có thuộc địa nào kêu ca rằng chủ nhân là không xứng đáng với nó. Và chúng ta chắc chắn không phải là không có nhân chứng; sức mạnh vĩ đại của chúng ta sẽ là kỳ tích cho thế hệ này và những thế hệ kế tiếp; chúng ta sẽ không cần những tán dương của Homer hay bất kỳ ai, mà những vần thơ của họ có thể làm đẹp lòng trong khoảng khắc này, dù cho sự thật trong đó không đáng tin cậy.  Vì chúng ta bắt buộc các quốc gia phải mở cửa với lòng dũng cảm của ta, và ở mọi nơi đều đặt những đài kỷ niệm ghi nhận tình bạn và sự  thù nghịch của chúng ta. Đấy là cái thành quốc vì nó những người này đã chiến đấu và hy sinh; họ không thể chịu nổi cái ý nghĩ rằng nó sẽ bị mất đi từ tay họ; và mỗi người còn sống trong số chúng ta sẽ vui vẻ hy sinh vì nó.

Tôi đã dừng lại để nói về sự vĩ đại của Athens vì tôi muốn cho quí vị thấy rằng chúng ta chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp hơn hẳn những ai không hưởng được những đặc ân này, và xác lập bằng chứng cớ rõ ràng công lao của những người hôm nay tôi đang tưởng nhớ. Lời tán dương cao quý nhất dành cho họ đã được nói ra. Vì trong khi tán dương thành quốc tôi đã tán dương họ, và những người như họ mà đức hạnh đã làm vinh quang thành quốc. Và có bao nhiêu người Hy Lạp được như họ, mà khi được đem lên bàn cân thì hành động cũng sánh ngang với danh tiếng của họ! Tôi tin rằng những hy sinh như họ là thước đo thực sự giá trị của một người; nó có thể là biểu lộ lần đầu tiên đức hạnh của họ, nhưng dù thế nào cũng là dấu ấn cuối cùng. Bởi vì ngay cả những ai có sai lầm trong những điều khác cũng có thể gỡ lại một cách chính đáng bằng lòng dũng cảm khi chiến đấu cho quốc gia; họ đã xóa đi cái xấu bằng cái tốt, và làm lợi cho quốc gia bằng việc công hơn là làm hại quốc gia bằng những việc tư. Không người nào trong họ bị yếu mềm do tài sản hay do dự khi từ bỏ hoan lạc đời sống; không ai trong số họ từ bỏ những ngày đau khổ với hy vọng, điều này là tự nhiên cho người nghèo khó, rằng một người dù nghèo, có thể một ngày nào đó trở nên giàu có. Nhưng, vì coi việc trừng phạt kẻ thù đáng hơn những điều này, và rằng họ không thể hy sinh vì một mục đích cao cả hơn, họ đã quyết định đem tính mạng để rửa nhục, và rời bỏ tất cả. Họ từ bỏ một cơ hội được hạnh phúc; nhưng đối diện với cái chết họ quyết tâm chỉ dựa vào chính mình. Và khi thời điểm đến họ thà kháng cự và chịu gian lao, còn hơn là bỏ chạy và giữ tính mạng; họ bỏ đi trước những lời nhục mạ, nhưng trên chiến trường họ đứng vững chãi, và trong thoáng chốc, ở đỉnh điểm của vận mệnh, họ biến mất, không phải khỏi nỗi sợ hãi, mà khỏi sự vinh quang của họ.

Đấy là kết cục của những người này; họ xứng đáng với Athens, và người sống không thể mong ước có một tinh thần anh dũng hơn, mặc dù họ có thể cầu mong cho một kết cuộc ít thảm khốc hơn. Giá trị của một tinh thần như thế không thể diễn đạt bằng lời. Bất kỳ ai cũng có thể kể dài dòng với quý vị về những ưu điểm của một cuộc phòng thủ anh hùng, và quý vị đã biết rồi. Nhưng thay vì lắng nghe anh ta nói gì, tôi muốn quý vị ngày ngày chú tâm vào sự vĩ đại của Athens, đến khi nào quý vị tràn ngập tình yêu nước; và khi quý vị được khắc sâu bằng hình ảnh vinh quang của thành quốc, hãy biết rằng đế quốc này được tạo lập bởi những người biết rõ trách nhiệm của mình và có can đảm thực hiện nó, những người mà trong giờ phút lâm trận, nỗi lo bị ô danh thường trực hiện diện, và họ, dù có lúc nào đó thất bại trong việc riêng, không cho phép đức hạnh của họ bị đánh mất khi đất nước nguy nan, mà tự nguyện cống đời mình như một món quà đẹp nhất cho đất nước. Những hy sinh mà tất cả họ đồng lòng hiến dâng, đã được đền đáp cho từng người một; bởi vì mỗi người trong số họ sẽ nhận được lời tán dương vĩnh viễn không bao giờ cũ, và ngôi mộ cao quý nhất, tôi không nói về nơi mà thân xác họ được chôn cất, mà là nơi mà thanh danh của họ sống mãi, và được vinh danh mãi mãi trong những dịp lễ bằng cả lời nói lẫn việc làm. Bởi vì cả thế gian này là ngôi mộ của những anh hùng; không những họ được tưởng nhớ bằng trụ cao và chữ khắc ở đất nước họ, mà trong những mảnh đất xa lạ cũng có những đài tưởng niệm bất thành văn cho họ, không phải trên đá mà trong tâm trí của người dân. Hãy noi gương họ, và, khi mà lòng dũng cảm đáng kính đó là để đạt được tự do và tự do là để đạt được hạnh phúc, đừng chùn bước trước hiểm họa chiến tranh. Những người thiếu may mắn, vốn có ít hy vọng đổi đời, sẽ có ít lý do để liều mạng bằng một người giàu có, mà nếu sống sót, thì có nhiều khả năng phải đối diện với đời sống khó khăn hơn, và với họ chỉ một lúc yếu lòng cũng mang đầy hệ lụy nguy hiểm. Vì với một người dũng cảm, hèn nhát và thảm họa mà đồng hành thì cay đắng hơn nhiều so với cái chết ập đến bất ngờ ngay vào lúc anh ta tràn đầy dũng khí và sục sôi hy vọng.

Vì vậy giờ đây tôi không đem lòng thương cảm các bậc cha mẹ của những người đã mất hiện đang ở nơi đây; tôi thà là ủy lạo họ. Quý vị biết rằng những người mất đã ra đi qua muôn vàn thăng trầm; và rằng họ có lẽ được coi như may mắn khi đạt được danh dự tột đỉnh, hoặc bằng cái chết trong danh dự của họ, hoặc bằng nỗi buồn đau đáng kính của quý vị, và cuộc tử sinh của họ đã được sắp đặt chính xác, để họ sống trong hạnh phúc và ra đi trong hạnh phúc. Tôi hiểu sự đau khổ quý vị đang gánh chịu, khi sự may mắn của người khác sẽ thường xuyên gợi lại niềm vui đã từng thắp sáng trái tim quý vị. Và nỗi đau buồn chính là niềm mong ước những phước lành đó, không phải những thứ mà một người chưa từng biết, mà những thứ từng là một phần trong đời sống của người đó cho đến khi bị tước đoạt mất. Một số trong quý vị đang ở độ tuổi hy vọng sẽ có những đứa con khác, và họ sẽ chịu đựng nỗi đau này dễ dàng hơn; không những những đứa con được sinh ra sau này sẽ làm họ quên đi những đứa con đã mất, mà thành quốc cũng được lợi ích gấp bội. Thành quốc sẽ không bị bỏ mặc, mà sẽ an toàn hơn. Bởi vì lời khuyên của một người không thể có trọng lượng và giá trị, nếu người đó không có con cái sẵn sàng hy sinh vì hiểm họa chung. Với những ai đã quá tuổi, tôi xin nói rằng: Hãy vui mừng vì quý vị đã hạnh phúc trong phần lớn cuộc đời quý vị; và hãy nghĩ rằng đời sống đau buồn còn lại của quý vị sẽ không còn lâu, và được an ủi bởi danh dự của những người đã khuất. Bởi vì lòng yêu chuộng danh dự sẽ trẻ mãi không già, và không phải sự giàu có, như người ta thường nói, mà danh dự mới là niềm vui của nam nhi khi già nua và vô dụng.

Với quý vị, con cái anh em của những người đã mất, tôi nghĩ rằng cố gắng noi gương họ là một việc khó khăn. Bởi vì mọi người đều tán dương những người đã mất, và dù đức hạnh của quý vị có ưu việt đến đâu, tôi không nghĩ có thể đạt được như họ, nói chi tới mức sánh bằng hay vượt qua họ; khi một người đã mất, danh dự và thiện chí cho người đó là thuần khiết (không giả tạo). Và nếu tôi phải nói về đức hạnh của phụ nữ cho những người sẽ là goá phụ, tôi xin tóm tắt bằng một lời khuyên ngắn gọn: với phụ nữ, không để lộ sự mềm yếu quá mức bình thường của nữ giới là danh dự lớn lao, và không để nam giới đàm tiếu dù là tốt hay xấu.

Tôi đã làm xong nhiệm vụ tưởng niệm người đã mất, tuân theo luật pháp, với những ngôn từ thích hợp. Món nợ đã được trả xong một phần bằng buổi lễ tưởng niệm này; bởi vì chúng ta nợ những người đã mất, và điều còn lại cần làm là con cái của họ sẽ được nuôi dạy bằng công quỹ đến khi chúng trưởng thành: đây là phần thưởng thực thụ mà, cùng với vòng nguyệt quế, thành quốc Athens đeo cho những nam nhi còn sống hay đã chết, sau mỗi chiến công. Bởi vì nơi nào mà đức hạnh được tưởng thưởng nhiều nhất, thì ở đó những công dân cao thượng nhất sẽ đăng ký để phục vụ quốc gia. Và giờ đây, quý vị đã tiếc thương thích đáng những người đã mất, quý vị có thể ra về.

Pericles's Funeral Oration by Philipp Foltz
Pericles’s Funeral Oration by Philipp Foltz

Nguồn: http://hrlibrary.umn.edu/education/thucydides.html

Có tham khảo các bản dịch khác:

https://en.m.wikisource.org/wiki/Pericles%27s_Funeral_Oration

No Man is an Island — John Donne

Donne’s portrait by Isaac Oliver
Donne’s portrait by Isaac Oliver

No Man is an Island
John Donne

No man is an island entire of itself; every man
is a piece of the continent, a part of the main;
if a clod be washed away by the sea, Europe
is the less, as well as if a promontory were, as
well as any manor of thy friends or of thine
own were; any man’s death diminishes me,
because I am involved in mankind.
And therefore never send to know for whom
the bell tolls; it tolls for thee.

Olde English Version

No man is an Iland, intire of itselfe; every man
is a peece of the Continent, a part of the maine;
if a Clod bee washed away by the Sea, Europe
is the lesse, as well as if a Promontorie were, as
well as if a Manor of thy friends or of thine
owne were; any mans death diminishes me,
because I am involved in Mankinde;
And therefore never send to know for whom
the bell tolls; It tolls for thee.

MEDITATION XVII
Devotions upon Emergent Occasions
John Donne

Source: https://web.cs.dal.ca/~johnston/poetry/island.html

John Donne (1572–1631) was an English poet, scholar, soldier, secretary, and cleric.

A portrait of Donne as a young man, c. 1595, in the National Portrait Gallery, London
A portrait of Donne as a young man, c. 1595, in the National Portrait Gallery, London

Không Ai Là Hải Đảo
John Donne
Võ Tấn Phát dịch

Không ai là hải đảo tự thân; mỗi người
là một phần của lục địa, một phần của tổng thể;
nếu một hòn đất bị biển cuốn trôi, Âu Châu
sẽ nhỏ hơn, cũng thế nếu một mỏm đất bị trôi đi, cũng
như thế nếu thái ấp của bằng hữu hay của chính
bản thân ngươi; cái chết của bất kỳ ai cũng làm ta bé lại,
bởi vì ta là một phần nhân loại.
Và vì vậy đừng bao giờ hỏi
chuông gọi hồn ai; chuông gọi hồn ngươi đó.

A Song for Autumn — Mary Oliver

Vo-Dinh, painting on rock, WxH 7x5 in. Gift from a friend
Vo-Dinh, painting on rock, WxH 7×5 in. Gift from a friend


A Song for Autumn

Mary Oliver

Don’t you imagine the leaves dream now
   how comfortable it will be to touch
the earth instead of the
   nothingness of the air and the endless
freshets of wind? And don’t you think
   the trees, especially those with
mossy hollows, are beginning to look for

the birds that will come—six, a dozen—to sleep
   inside their bodies? And don’t you hear
the goldenrod whispering goodbye,
   the everlasting being crowned with the first
tuffets of snow? The pond
   stiffens and the white field over which
the fox runs so quickly brings out
   its long blue shadows. The wind wags
its many tails. And in the evening
   the piled firewood shifts a little,
longing to be on its way.

A friend, whom I’ve never met and who wished to remain anonymous, knowing I love rocks and Vo-Dinh’s art, gifted me with this painting on a small slab of rock by Vo-Dinh. Many thanks!

Thu Ca
Mary Oliver
Võ Tấn Phát dịch

Bạn có hình dung lá đang mơ màng
   sẽ dễ chịu biết bao khi chạm
đất thay vì
   hư vô không khí và vô tận
gió? Và bạn có nghĩ rằng
   cây, đặc biệt là cây có
hõm xanh rêu, đang bắt đầu mong ước

chim sẽ đến—sáu, hay chục con—đến ngủ
   trong lòng cây? Bạn có nghe
kim cúc thì thầm lời từ biệt,
   cúc trường sinh đội
những bụi tuyết đầu mùa? Ao
   đông cứng và trên cánh đồng trắng xoá
cáo chạy nhanh để lại
   những bóng dài màu lam. Gió vẫy
nhiều cái đuôi. Và đêm đến
   đống củi xê dịch chút đỉnh
chờ mong vô lò sưởi.

Một người bạn, chưa bao giờ gặp và không muốn ai biết tên, biết mình thích đá và thích tranh Võ Đình, đã tặng bức tranh Võ Đình vẽ trên đá này. Cảm ơn vô cùng!

The First Principle

Manpuku-ji Gate
Manpuku-ji Gate “The First Principle”


The First Principle

When one goes to Obaku temple in Kyoto he sees carved over the gate the words “The First Principle.” The letters are unusually large, and those who appreciate calligraphy always admire them as being a masterpiece. They were drawn by Kosen two hundred years ago.

When the master drew them he did so on paper, from which workmen made the larger carving in wood. As Kosen sketched the letters a bold pupil was with him who had made several gallons of ink for the calligraphy and who never failed to criticize his master’s work.

“That is not good,” he told Kosen after the first effort.

“How is that one?”

“Poor. Worse than before,” pronounced the pupil.

Kosen patiently wrote one sheet after another until eighty-four First Principles had been accumulated, still without the approval of the pupil.

Then, when the young man stepped outside for a few moments, Kosen thought: “Now is my chance to escape his keen eye,” and he wrote hurridly, with a mind free from disctraction. “The First Principle.”

“A masterpiece,” pronounced the pupil.

Kosen Shoton, Calligraphy “Ishi”, Sotheby’s
Kosen Shoton, Calligraphy “Ishi”, Sotheby’s

Zen Master Muju, Shaseki-shu (Collection of Stone and Sand)

Source: http://www.buddhism.org/collection-of-stone-and-sand/

Note:

Ōbaku-san Manpuku-ji (黄檗山萬福寺, Manpuku Temple on Mt. Ōbaku)

Kosen Shoton (高泉性敦) (1633-1695)

Manpuku-ji Gate “The First Principle”
Manpuku-ji Gate “The First Principle”


Đệ Nhất Đế

Đỗ Đình Đồng dịch

Khi một người bước chân đến đền Obaku ở Kyoto, nhìn thấy trên cổng đền bằng gỗ có chạm mấy chữ Đệ Nhất Đế. Chữ chạm to lớn lạ thường, và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn chiêm ngưỡng như là một kiệt tác. Những chữ này do Kosen vẽ hai trăm năm về trước.

Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó mà chạm lớn hơn vào gỗ.

Trong lúc Kosen phát họa trên giấy, một chú đệ tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến mấy bình để viết cho đẹp mới thôi, và chú luôn luôn phê bình tác phẩm của thầy chú. Chú nói với Kosen sau lần cố gắng thứ nhất của ông:

– Cái đó không đẹp.

– Cái này thế nào? Kosen hỏi. Chú đáp:

– Tệ. Xấu hơn cái trước.

Kosen kiên nhẫn viết từ tấm này đến tấm khác đến tám mươi bốn tấm. Đệ Nhất Đế chồng chất lên nhau thành đống, vẫn không thấy chú học trò mình đồng ý.

Rồi chú bé bước ra ngoài. Kosen nghĩ:

– Bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của nó, và Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng:

– Đệ Nhất Đế.

Chú bé bước vào reo lên:

– Một kiệt tác.

Thiền sư Vô Trú, Góp nhặt cát đá

Nguồn: http://www.daibi.vn/2011/11/gop-nhat-cat-da/

Ghi chú:

Ōbaku-san Manpuku-ji (黄檗山萬福寺) Hoàng Bách Sơn Vạn Phúc Tự – Chùa Vạn Phúc ở núi Hoàng Bách

Kosen Shoton (高泉性敦) (1633-1695) Cao Tuyền Tính Đôn

A Hermit Monk in the Mountains – Ikkyu Sojun

The Zen priest Ikkyū by Bokusai
Ikkyū by Bokusai (Motsurin Shōtō, 1412-1492) 43.7 x 26.1 cm. Important Cultural Property. Tokyo National Museum, Tokyo


A Hermit Monk in the Mountains

Ikkyu Sojun
Translation into English by John Stevens

I like it best when no one comes,
Preferring fallen leaves and swirling flowers for company.
Just an old Zen monk living like he should,
A withered plum tree suddenly sprouting a hundred blossoms.

John Stevens, Wild Ways: Zen Poems of Ikkyū. Boston, Mass. Shambhala, 1995

Source: https://phaphoan.ca/2021/09/23/kanshi-32-ikkyu-sojun-一休宗純-nhat-huu-tong-thuan

A wooden statue of Ikkyū at Shūon’an
A wooden statue of Ikkyū at Shūon’an

Ẩn Tăng trong Núi
Ikkyu Sojun
Võ Tấn Phát dịch (từ bản dịch Anh Ngữ)

Cửa thiền: không người lui tới,
Bằng hữu: lá rụng hoa rơi.
Lão tăng: an nhiên tự tại,
Mai khô: trăm nụ bỗng cười.

Cảm ơn một bạn FB, Tuệ Hỷ giúp sửa đổi “Cửa thiền: không người qua lại” thành “Cửa thiền: không người lui tới”.

Ikkyu Sojun (一休宗純) – Nhất Hưu Tông Thuần)

A portrait of Ikkyū with his famous red sword
A portrait of Ikkyū with his famous red sword

Hiking Mount Whitney

Trang and Phat At Mt. Whitney Peak
Trang and Phat At Mt. Whitney Peak

Hiking Mount Whitney – May 31, 2021

Our friend Janet Yeow won the Mt. Whitney permits for 4 on May 31, 2021, and asked us to join her. At 14,505ft (4421m) Mt. Whitney is the highest mountain in the contiguous US. How could we refuse that?

For training in Arizona we hiked Humphreys Peak on Sunday May 16, and hiked Kendrick Peak on Saturday May 22. Then we drove to Lone Pine, California, camped at Onion Valley Campground on May 29, and hiked up to Gilbert Lake. The next day we stayed at Whitney Portal and hiked up about 1.5 miles. On the trail we met Chris, a Mt. Whitney ranger who gave us several good tips on hiking Mt. Whitney.

On the big day May 31 we started the hike at 1:20AM. Janet went ahead, and Lisa and Phat walked up slowly due to altitude sickness. We got near Consultation Lake at dawn. At the Trail Camp we filtered the water, hiked up the crazy 99 switchbacks, then continued to the top. Janet got to the top around 11AM. Lisa and Phat got to the top around 12:45PM. One of us (guess who) was so excited that she asked her insignificant other to take pictures of her both front and back holding the Mt. Whitney sign, to make sure no one would mistake her for somebody else. We took many pictures, signed the guest book, chatted with others, shared our lunches with strangers, and enjoyed the views all around.

We descended pretty fast, and enjoyed the views we missed when we came up in the dark. We reached the Whitney Portal around 9:30PM, hiking 22 miles in 20+ hours. Janet was there waiting for us. She finished 2 hours earlier, went back to the hotel and took a shower, and drove to the trailhead waiting for us. What a friend!

We came back to Janet’s hotel, took showers, had dinner, then said goodbye to Janet, and took turns to drive home through the night.

The trip was fun. The weather was perfect. The scenery was breathtaking beyond words. And the hikers were cheerful, generous, and helpful. A young man saw that Lisa was having some hard time breathing, and he offered to share his water. Many people could not make it to the top due to altitude sickness, but were happy to point us to the right trail as we looked a little lost. Places like this do some good to our souls.

Leo núi Whitney – ngày 31 tháng 5 năm 2021

Bạn tụi mình Janet Yeow may mắn có được giấy phép leo núi Whitney vào ngày 31/5/2021 cho 4 người, và mời tụi mình cùng đi. Whitney cao 14,505ft (4421m) là ngọn núi cao nhất trong 48 tiểu bang lục địa của Mỹ. Nghe đã ham rồi, làm sao từ chối được.

Để tập luyện cho chuyến đi, ở Arizona tụi mình leo núi Humphreys ngày Chủ Nhật 16/5, leo núi Kendrick ngày Thứ Bảy 22/5. Rồi tụi mình lái xe tới thành phố Lone Pine ở California, cắm trại ở Onion Valley Campground vào này 29/5, và leo lên tới hồ Gilbert ở đó. Ngày hôm sau tụi mình tới Whitney Portal và leo lên khoảng 1.5 dặm. Trên đường tụi mình gặp Chris, một nhân viên kiểm lâm ở đó, và anh chàng cho biết nhiều thông tin bổ ích cho chuyến leo núi này.

Vào ngày trọng đại 31/5 tụi mình khởi hành lúc 1:20 sáng. Janet đi lên trước, còn Trang và Phát do bị khó thở ở độ cao, nên đi chậm hơn. Hai đứa mình tới gần hồ Consultation lúc hừng sáng. Ở Trail Camp tụi mình lấy nước hồ, lọc vào bình, tiếp tục leo lên 99 đường đèo lên núi, rồi tiếp tục leo tới đỉnh. Janet lên tới đỉnh núi lúc 11 giờ sáng, Trang và Phát leo tới đỉnh núi lúc 12:45 trưa. Một đứa tụi mình (đoán thử đứa nào) quá phấn khích nên bảo đứa ngu kia chụp hình cả phía trước lẫn phía sau cầm tấm bảng núi Whitney, để khỏi bị lẫn lộn với người khác. Tụi mình chụp hình, ký tên lên danh sách những người leo tới đỉnh, tán dóc với mọi người, chia sẻ thức ăn với người lạ, thưởng thức phong cảnh xung quanh.

Hai đứa xuống núi nhanh, thấy được những cảnh quan trên đường đi mà lúc đi lên tối trời không thấy được. Tụi mình về tới Whitney Portal lúc 9:30 tối, sau khi đi bộ 22 dặm trong vòng hơn 20 giờ. Cô bạn Janet đã ngồi chờ sẵn. Janet xuống núi trước đó 2 giờ, đã về khách sạn tắm rửa xong, rồi quay lại chờ tụi mình. Đúng là bạn tốt!

Hai đứa mình lái xe theo Janet về khách sạn, tắm rửa, ăn tối, tạm biệt Janet, rồi thay nhau lái xe suốt đêm về nhà.

Chuyến đi thật thú vị. Thời tiết tuyệt vời. Phong cảnh kỳ diệu không lời nào tả xiết. Những người leo núi rất vui vẻ, hào phóng, và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau. Một chàng trai trẻ thấy Trang khó thở, đem nước sớt bớt cho nàng. Nhiều người khác không thể lên tới đỉnh do say độ cao, cũng sẵn sàng chỉ đường khi tụi mình bị lạc. Đến những nơi chốn này hẳn làm người ta tốt hơn lên.

At Blackwater Pond – Mary Oliver

Little Pond, by Hagiwara Hideo, woodblock print
Little Pond, by Hagiwara Hideo, woodblock print


At Blackwater Pond

Mary Oliver

At Blackwater Pond the tossed waters have settled
after a night of rain.
I dip my cupped hands. I drink
a long time. It tastes
like stone, leaves, fire. It falls cold
into my body, waking the bones. I hear them
deep inside me, whispering
oh what is that beautiful thing
that just happened?

Blackwater Pond
https://www.bedlamfarm.com/2009/07/19/blackwater-pond-what-beautiful-thing-just-happened/

Art: Little Pond, by Hagiwara Hideo, woodblock print
https://collections.mfa.org/objects/524279

Ở Ao Nước Đen
Mary Oliver
Võ Tấn Phát dịch

Ở Ao Nước Đen nước bị quăng quật giờ đã lắng đọng
sau một đêm mưa.
Tôi khum tay vọc xuống nước. Tôi uống
thật lâu. Nước có vị
của đá, lá, và lửa. Nó chở cái lạnh
vào cơ thể tôi, đánh thức xương tủy. Tôi nghe chúng
sâu thẳm trong tôi, thì thầm
ôi điều tuyệt diệu gì
vừa xảy ra vậy?


Ao Nước Đen (Hắc Thuỷ Trì)
https://www.bedlamfarm.com/2009/07/19/blackwater-pond-what-beautiful-thing-just-happened/

Tranh: Cái Ao Nhỏ, tranh khắc gỗ của Hagiwara Hideo
https://collections.mfa.org/objects/524279

Về việc đọc sách – Lỗ Tấn

Portrait of Lu Xun
Guo Dasheng, A Portrait of Lu Xun, woodcut print


Về việc đọc sách

Lỗ Tấn
Châu Hải Đường dịch

Ít nhất là có hai kiểu: một là đọc sách vì công việc, và hai là đọc sách vì sở thích. Gọi là đọc sách vì công việc, ví dụ như học sinh vì phải lên lớp, giáo viên vì phải giảng bài, nếu không mở sách ra đọc thì sẽ khá nguy hiểm. Tôi nghĩ, trong các bạn đang ngồi ở đây, nhất định có một số bạn có kinh nghiệm thế này: có người không thích toán, có người không thích vật lý, nhưng không thể không học được, nếu không, sẽ không thể hoàn thành chương trình, không thể lên lớp, và nó sẽ phương hại đến sinh kế tương lai của các bạn. Bản thân tôi cũng như vậy. Vì tôi làm thầy giáo, nên cũng có lúc không thể không đọc loại sách mà mình không thích, nếu không như vậy, chỉ e rằng không bao lâu sẽ ảnh hưởng ngay đến bát cơm của mình. Chúng ta đã thành thói quen, cứ nói đến đọc sách, bèn cảm thấy đó là một việc rất cao thượng, kỳ thực việc đọc sách như thế này, cũng chẳng khác gì việc một ông thợ mộc mài lưỡi cưa, ông thợ may sửa kim chỉ cả. Chẳng những không có gì là cao thượng, mà có khi còn rất đau khổ, rất đáng thương. Việc bạn muốn làm, thì lại không cho bạn làm, còn việc bạn không muốn làm, thì lại không làm không được. Đó là vì giữa công việc và sở thích không thể hợp nhất được lại với nhau. Nếu như mọi người đều có thể làm những việc mà mình yêu thích, mà ai nấy vẫn có cơm ăn, thì hạnh phúc biết bao. Song, xã hội hiện nay còn chưa làm như vậy được, cho nên phần lớn những người đọc sách hầu như chỉ là đọc một cách miễn cưỡng và đau khổ vì công việc của mình mà thôi.

Bây giờ, tôi xin nói đến việc đọc sách vì sở thích. Đó là việc xuất phát từ tự nguyện, không hề bắt buộc, tách rời hoàn toàn khỏi những quan hệ lợi ích. Tôi nghĩ, việc đọc sách vì sở thích, cũng giống như người mê bài bạc vậy, ngày nào cũng chơi, tối nào cũng chơi, liên tục chơi, có khi bị cảnh sát bắt rồi, nhưng sau khi được thả ra lại tiếp tục chơi. Các bạn nên biết rằng, một người thực sự mê bài bạc thì mục đích của họ không phải ở kiếm tiền, mà ở cái thú của bài bạc. Bài bạc thì có cái thú thế nào, tôi là người ngoại đạo, cũng không hiểu lắm. Nhưng tôi có được nghe những người mê bài bạc nói, nó lý thú ở chỗ từng lá từng lá bài anh bốc lên, đều luôn biến hóa vô cùng. Tôi nghĩ, phàm những người mê đọc sách, có thể tay không rời quyển sách, thì nguyên nhân cũng là như vậy. Trong mỗi một trang sách, anh ta đều thấy một thú vị vô cùng sâu sắc. Tất nhiên, nó cũng có thể giúp mở mang tinh thần, tăng thêm tri thức nữa. Nhưng tôi không đề cập đến những điều này, vì nếu tính đến những điều ấy, thì cũng giống như những con bạc có ý định ở việc kiếm tiền rồi, việc này, trong đám con bạc mà nói, thì cũng bị coi là hàng hạ phẩm.

Nhưng, ý tôi, hoàn toàn không phải là khuyên các bạn nên bỏ học, để đi đọc những cuốn sách mà mình thích đọc. Thời điểm ấy còn chưa đến. Cũng có thể trước sau không bao giờ đến, mà nhiều nhất chỉ là, sau này có thể tìm cách khiến cho mọi người nảy sinh thêm nhiều hơn hứng thú với những việc mình không làm không được mà thôi. Tôi đang nói rằng, các bạn thanh niên thích đọc sách, rất có thể đọc thêm những cuốn sách ngoài những cuốn bổn phận phải đọc của mình, tức là những cuốn ngoài sách học ở trường, chứ không phải chỉ có ôm chặt lấy những cuốn giáo khoa. Nhưng xin chớ hiểu lầm, tôi không hề nói rằng, tỷ như trong giờ ngữ văn, nên đọc trộm những cuốn như “Hồng lâu mộng” giấu dưới ngăn bàn. Mà là nói rằng, trong lúc rảnh rỗi sau khi đã làm xong bài tập, các bạn có thể đọc xem các loại sách khác, dù rằng có cuốn không liên quan gì đến chuyên môn của mình cả, cũng nên rộng đọc. Ví như người học Vật Lý, thì nên đọc thêm sách văn học, người học Văn Học, thì nên đọc thêm sách khoa học, xem xem những nghiên cứu của người khác về lĩnh vực ấy rốt cuộc là như thế nào. Như vậy, thì với những người khác, việc khác, có thể có những hiểu biết sâu hơn. Trung Quốc hiện nay có một cái tật rất lớn, đó là người ta hầu như đều cho rằng những gì mà mình học mới là thứ học vấn hay nhất, tuyệt nhất, quan trọng nhất, còn những cái khác đều vô dụng, đều không đáng để nói. Những người làm những việc không đáng để nói ấy, rồi tương lai tất chết đói. Kỳ thực là, thế giới không hề giản đơn như vậy, thứ học vấn nào cũng đều có chỗ dùng của nó, muốn xác định xem cái nào mới là hàng đầu là rất khó. Cũng may rằng, chúng ta có đủ mọi kiểu người, chứ giả như trên thế giới tất cả đều là nhà văn, chỗ nào cũng chỉ thấy nói đến nếu không phải là “phân loại văn học” lại là “cấu tạo của thơ”, thì không biết sẽ vô vị đến đâu.

Nhưng những điều tôi vừa nói trên, chỉ là những hiệu quả kèm theo có được mà thôi. Khi đọc sách theo sở thích, thì bản thân người ta tự nhiên không tính toán đến những cái đó, cũng giống như đi chơi công viên vậy, cứ thoải mái mà đi, vì thoải mái đi, cho nên không thấy mệt, vì không thấy mệt, cho nên cảm thấy thú vị. Nếu như một quyển sách cầm đến tay, mà trong lòng luôn nghĩ rằng, “Mình đang đọc sách đây!”, “Mình đang ra sức đây!”, như vậy sẽ rất dễ mệt mỏi, và vì thế mà giảm mất cả thú vị, hoặc giả sẽ biến thành một việc khổ sở.

Tôi thấy thanh niên ngày nay, vì hứng thú mà đọc sách là có, và tôi cũng luôn luôn gặp những câu hỏi khác nhau của họ. Bây giờ, tôi xin nói một chút về những điều suy nghĩ của mình, nhưng chỉ giới hạn ở phương diện văn học, bởi vì tôi không hiểu lắm về những lĩnh vực khác.

Thứ nhất, là chúng ta thường không có sự phân biệt rõ giữa văn học và văn chương. Thậm chí có người đã bắt tay vào làm công việc phê bình văn chương, cũng không tránh khỏi lỗi ấy. Thực ra, nói một cách đại khái, cái này rất dễ phân biệt. Những người nghiên cứu về lịch sử hay lí luận văn chương, là những nhà văn học, nhà nghiên cứu; Còn những người làm thơ, viết kịch, tiểu thuyết, là những người làm văn chương, mà như thời xưa vẫn nói là văn nhân, và bây giờ thì gọi là nhà sáng tác. Nhà sáng tác không hiểu chút nào về văn học sử hay lý luận văn học cũng không hề gì cả, và nhà văn học không làm nổi một câu thơ cũng không sao. Thế nhưng trong xã hội Trung Quốc vẫn hiểu rất sai lầm rằng, anh viết được mấy thiên truyện ngắn, thì liền cho rằng anh nhất định phải hiểu được khái luận về tiểu thuyết, làm được mấy câu thơ mới, liền muốn anh phải nói về nguyên lý của thơ. Tôi cũng thường gặp những bạn thanh niên muốn viết tiểu thuyết, bèn trước tiên đi mua sách về cách thức viết tiểu thuyết và lịch sử văn học để đọc. Cứ như tôi thấy thì, dẫu các bạn ấy có đọc nát mấy cuốn sách đó, cũng không có tác dụng gì với việc sáng tác của các bạn ấy cả.

Trên thực tế, hiện nay cũng có một số người làm văn chương, có khi cũng đi làm thầy giáo. Nhưng đó là bởi vì công việc sáng tác ở Trung Quốc không kiếm ra tiền, không nuôi nổi bản thân mình. Nghe nói, những tiểu thuyết gia ở Mỹ viết một truyện vừa, cũng có giá tới hai ngàn Mỹ kim. Còn Trung Quốc, người khác tôi không biết thế nào, chứ bản thân tôi thì truyện ngắn gửi tới nhà sách lớn, mỗi truyện được trả hai mươi đồng. Vì thế đương nhiên, phải tìm một việc khác, ví dụ như làm thầy giáo, diễn giảng văn học. Nghiên cứu thì phải dùng đến lý trí, phải bình tĩnh lạnh lùng, còn sáng tác thì cần tình cảm, chí ít cũng phải có chút lửa nóng, và thế là chợt nóng chợt lạnh, làm cho đầu óc quay cuồng – Đó cũng là nỗi khổ của vấn đề công việc và sở thích không thể hợp làm một vậy. Nếu chỉ có khổ thì cũng coi như thôi không nói nữa, nhưng kết quả còn là chẳng việc gì làm được ra hồn cả. Chứng cứ của nó là, các bạn thử giở lịch sử văn học thế giới ra xem, những người trong đó, cơ hồ chẳng có ai là kiêm làm giáo viên cả.

Lại còn một cái hỏng nữa, ấy là khi đã làm giáo viên rồi, không tránh khỏi sẽ có những chỗ tránh né. Giáo viên phải có khuôn khổ của giáo viên, không thể tùy ý nói những điều mình muốn nói. Nói như vậy, có thể sẽ có người phản bác rằng: Vậy ông cứ thoải mái nói những điều mình muốn nói là được rồi, hà tất phải cẩn trọng như thế. Nhưng đó chỉ là những câu nói cho có khi chưa vào việc mà thôi, một khi xảy ra việc rồi, tự nhiên kẻ ấy cũng sẽ theo số đông mà công kích anh vậy. Mặt khác, bản thân người thầy giáo, dẫu rằng có tự cho mình phóng khoáng đến mức nào, thì trong ý thức rốt vẫn không tránh khỏi luôn có một khuôn khổ. Cho nên, ở nước ngoài, những cái gọi là “Tiểu thuyết giáo sư” cũng không ít, nhưng không có mấy ai khen hay, ít ra là nó luôn khó tránh khỏi có những chỗ khoe khoang học thức khiến người ta chán ớn.

Cho nên, tôi nghĩ rằng, nghiên cứu văn học là một việc, còn làm văn chương lại là một việc khác.

Thứ hai, tôi thường được hỏi rằng: Muốn làm về văn học, thì nên đọc sách gì? Đây thực sự là một câu hỏi rất khó trả lời. Trước đây cũng có mấy vị tiên sinh đã kê ra danh mục dài một loạt các loại sách cho thanh niên đọc. Nhưng cứ như tôi thấy, cái đó không hề có tác dụng gì, bởi vì tôi cảm thấy đó đều là những cuốn sách mà bản thân vị tiên sinh kê danh mục sách ấy muốn đọc, hoặc giả chưa hẳn đã muốn đọc. Tôi cho rằng, nếu muốn theo cách cũ, thì chẳng gì bằng tạm căn cứ vào “Thư mục vấn đáp” của Trương Chi Động mà đi tìm theo. Còn nếu muốn theo cách mới, nghiên cứu văn học, thì tự mình trước hết hãy đọc các loại sách sổ tay, như “Khái luận Văn học mới” của Honma Hisao, “Biểu tượng của sầu khổ” của Kuriyagawa Hakuson, “Luận chiến văn nghệ Nga Xô” của Voronsky, sau đó hãy tự mình thử suy nghĩ, mà tiếp tục đọc rộng thêm. Bởi vì, lý luận của văn học không giống như toán học, hai lần hai nhất định là bốn, cho nên chúng rất trái khác nhau. Như cuốn sách thứ ba kể trên, chính là tranh luận giữa hai phái văn chương của Nga, – tôi xin nói thêm một câu, gần đây nghe nói, đến tiểu thuyết của Nga cũng không có mấy người xem, dường như cứ thấy một chữ “Nga” là giật mình, kỳ thực những sáng tác mới của Nga Xô đã từng có ai giới thiệu đâu, hiện nay có mấy cuốn được dịch in, thì đều là những tác phẩm trước cách mạng, mà tác giả của nó ở bên nước ấy đều đã bị coi là phản cách mạng rồi. Nếu muốn thử đọc những tác phẩm văn nghệ, thì trước hết nên đọc những cuốn tuyển chọn của các danh gia, từ đó cảm thấy tác phẩm của ai khiến bản thân mình thích đọc nhất, rồi sau sẽ tìm đọc tập riêng của tác giả đó, tiếp theo nữa lại từ lịch sử văn học xem xem vị trí lịch sử của tác giả ấy. Nếu như muốn biết một cách tường tận, thì xem một vài cuốn truyện ký của người ấy, là có thể hiểu rõ được đại lược rồi. Nếu chuyên chỉ có đi hỏi người khác, thì mỗi người có một sở thích khác nhau, rốt sẽ chỉ là ông chẳng bà chuộc vậy.

Thứ ba, tôi xin nói mấy câu về việc phê bình. Hiện nay, vì các xuất bản phẩm quá nhiều, – kỳ thực là có bao nhiêu đâu, nhưng vì độc giả không khỏi có chỗ phân vân, bèn trông đợi ở việc phê bình, vì vậy mà các nhà phê bình cũng được dịp nổi lên. Cái gọi là phê bình này, đối với độc giả, chí ít là những độc giả tương cận với tôn chỉ của nhà phê bình ấy, là hữu dụng vậy. Nhưng ở Trung Quốc hiện nay, nhẽ nên tạm thời có một cách nói khác. Thường thường có người nhầm tưởng rằng, nhà phê bình nắm quyền sinh sát với việc sáng tác, chiếm vị trí tối cao trong văn đàn, vì vậy anh ta bèn bỗng nhiên biến thành nhà phê bình. Trên linh hồn anh ta đã treo một cây đao. Nhưng sợ rằng lập luận của mình còn chưa kín kẽ, thì anh ta bèn chủ trương chủ quan. Cũng có lúc anh ta sợ quan sát của mình người khác không coi trọng, thì lại chủ trương khách quan. Có lúc anh ta nói bài viết của mình căn bản là hoàn toàn đồng tình, có lúc lại đem người bị phê bình mắng nhiếc đến không còn đáng một đồng. Phàm những bài viết phê bình của Trung Quốc, tôi càng xem càng thấy mơ hồ, nếu như cho nó là thật, thì sẽ không còn lối nào mà đi nữa. Người Ấn Độ đã sớm biết việc này, nên có một câu chuyện ví dụ rất phổ biến, thế này: Có một ông già cùng đứa con trai dắt theo một con lừa chở hàng đi chợ bán. Bán hàng xong, đứa con cưỡi lừa về, còn ông già đi theo sau. Người đi đường bèn trách cứ người con, rằng không có hiểu biết gì, để cho ông già tuổi cao phải đi bộ. Hai người họ bèn đổi chỗ cho nhau, người cha cưỡi lừa, người con đi bộ. Nhưng người đi đường lại nói ông già nhẫn tâm, bắt con đi bộ. Ông già vội đỡ cả đứa con cùng lên yên ngồi. Người đi đường trông thấy thế lại nói rằng cha con ông tàn ác, kéo cả hai người lên lưng con lừa. Vì vậy hai cha con ông già lại cùng nhau xuống đi bộ cả. Đi chưa được bao lâu, thì lại thấy có người chê cười họ, bảo họ ngốc nghếch, để con lừa đi không mà không cưỡi. Thế là, ông già đành quay sang than thở với đứa con rằng: Chúng ta chỉ còn mỗi một cách thôi, đó là hai cha con ta khiêng con lừa này mà đi! Bất luận là đọc, hay là viết, nếu như lại đi hỏi ý hết người nọ người kia, thì kết quả cuối cùng thường sẽ là khiêng lừa mà đi vậy.

Nhưng tôi hoàn toàn không phải là muốn mọi người không đọc phê bình, chỉ là nói rằng, sau khi đọc rồi, vẫn phải tự mình đọc cuốn sách ấy, tự mình suy nghĩ, tự mình làm chủ. Đọc các loại sách khác cũng vậy, vẫn phải tự mình suy nghĩ, tự mình quan sát. Nếu chỉ đọc sách, sẽ biến thành một cái tủ sách, dẫu cho tự mình cảm thấy thú vị, nhưng thú vị ấy kỳ thực đã dần dà trở nên khô cứng, dần dà chết đi rồi. Trước đây, tôi từng phản đối việc các bạn thanh niên ẩn mình vào trong các phòng nghiên cứu, chính là vì ý này. Đến nay, có một số học giả, vẫn còn đem câu nói ấy coi là một tội trạng của tôi đấy.

Nghe nói, ông Bernard Shaw ở nước Anh, có nói một câu với ý thế này: Thứ tệ nhất trên thế gian này là những kẻ đọc sách. Bởi vì, họ chỉ biết xem tư tưởng nghệ thuật của người khác, mà không dùng cái của chính bản thân mình. Đó cũng chính như Schopenhauer nói là: để kẻ khác phi ngựa trong não mình. Khá hơn một chút là những người suy nghĩ. Bởi vì, họ có thể dùng sức sống của chính bản thân mình, nhưng vẫn không tránh khỏi có những điều nghĩ suông. Cho nên, tốt hơn cả là những người quan sát, họ dùng con mắt của chính mình để đọc bộ sách sống của thế gian này.

Câu ấy rất chính xác, kinh nghiệm thực tế luôn đúng đắn hơn nhiều so với đọc, nghe, hay nghĩ suông. Trước đây tôi đã từng ăn trái vải khô, trái vải đóng hộp, trái vải đã qua nhiều năm, và từ những thứ này suy tưởng về những trái vải tươi. Đến nay, sau khi đã ăn rồi, thì thấy nó hoàn toàn khác với những điều tôi đã suy tưởng. Nếu như tôi không đến Quảng Đông mà ăn trái vải tươi, thì vĩnh viễn tôi sẽ không biết điều ấy. Nhưng đối với câu nói của Shaw, tôi vẫn muốn có thêm một lời bàn trung lập. Vì Shaw là người Ái Nhĩ Lan, lập luận của ông không tránh khỏi có chút chưa thỏa đáng. Tôi cho rằng, giả như tìm lấy một người quê mùa chưa từng trải ở Quảng Đông, bảo anh ta đi từ Thượng Hải đến Bắc Kinh, hoặc một nơi nào đó, sau đó hỏi xem anh ta quan sát được những gì, thì e những điều anh ta quan sát được sẽ rất hạn chế, bởi vì anh ta chưa từng rèn luyện qua kỹ năng quan sát. Cho nên, muốn quan sát, thì trước tiên vẫn phải trải qua quá trình suy nghĩ và đọc sách.

Tóm lại, ý tôi rất đơn giản: Chúng ta hãy tự mình đọc sách, tức là đọc sách như một sở thích, thỉnh giáo người khác đại để sẽ chẳng tác dụng gì, chỉ nên trước tiên đọc rộng rãi nhiều thể loại, sau đó chọn lựa và đi vào một hoặc vài lĩnh vực tương đối chuyên sâu mà mình yêu thích. Nhưng, chuyên chỉ đọc sách cũng có tệ bệnh của nó, vì vậy tất yếu phải tiếp xúc với hiện thực xã hội, khiến cho những cuốn sách mà mình đọc được sống trở lại.

Nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p0/c57/n27947/Ve-viec-doc-sach.html

Yosemite – Ansel Adams

1D4873DF-D99D-4573-B8A3-B25902F9B9F1
Yosemite

Ansel Adams

The great rocks of Yosemite, expressing qualities of timeless, yet intimate grandeur, are the most compelling formations of their kind. We should not casually pass them by for they are the very heart of the earth speaking to us.

Những khối đá khổng lồ ở Yosemite, phô bày những tính cách hùng vĩ tuy vượt thời gian mà rất gần gũi, là những hình dáng tuyệt diệu nhất trong các khối đá cùng loại. Chúng ta không nên lướt qua nhìn chúng một cách vô tình, bởi vì chúng chính là tâm hồn của quả đất này đang trò chuyện với chúng ta đó.