Pathway to Zen — Janet Roth

Pathway to Zen
Janet Roth

I have written before about the suiseki that was given to Mas by his teacher, Mr. Hirotsu.  It is not a stone that immediately strikes the eye but instead rewards long, quiet, contemplation.  As I’ve related, Mas said he did not understand the stone at all when Mr. Hirotsu gave it to him. Over many years he came to realize that Hirotsu-sensei had been trying to lead him, through this suiseki, to the world of Zen.

“Pathway to Zen” (“Lối Thiền”); 7″ x 4.5″ x 5″; Keiseki Hirotsu
“Pathway to Zen” (“Lối Thiền”); 7″ x 4.5″ x 5″; Keiseki Hirotsu

Mas could certainly appreciate dramatic stones and even enjoyed a bit of “bling”, but always it was the spiritual depths of quiet and subtle suiseki that drew him. This can perhaps be felt in the stone he called “Daruma”. Like the one from Mr. Hirotsu, it has depths waiting to be explored.

“Daruma” (“Đạt Ma”); 6″ x 4.5″ x 6″; Mas Nakajima
“Daruma” (“Đạt Ma”); 6″ x 4.5″ x 6″; Mas Nakajima

This past summer I joined a few friends for a collecting trip around Northern California.  I was not planning to collect any stones for myself but was there to enjoy time with friends and to help guide the group to collecting locations. One of the stops was, of course, a place on the Klamath River, deep in the Klamath Mountains of Northern California, where Mas and I loved to collect.

I chose a beautiful spot with a view of the river and scattered some of Mas’ ashes. Almost immediately I looked down, and found a very beautiful little stone, which reminded me of the one from Mr. Hirotsu.

Our good friends Tan-Phat Vo and Lisa Vole were also along on the trip. Phat had learned from Mas the craft of carving daiza and we had all spent much time over the years discussing the art and spirit of suiseki. At lunch I handed my little stone to Phat and asked him if he thought he could make a daiza for it, to which request he very generously agreed.

Recently Phat and Lisa paid a visit to California and brought me the finished suiseki. I had forgotten how beautiful the stone was – and now, finished as a suiseki in Phat’s exquisite daiza, it is sublime.

“Gateway to Zen” (“Cửa Thiền”); 4″ x 2″ x 5″; Tan-Phat Vo
“Gateway to Zen” (“Cửa Thiền”); 4″ x 2″ x 5″; Tan-Phat Vo

It gives me such joy to live with this trinity of stones from Mas, his teacher, and his student. I can only hope that someday I too will be able to glimpse that spiritual realm to which these suiseki lead.

Source: https://suisekiart.com/2022/01/15/pathway-to-zen/

Lối Thiền
Janet Roth
Võ Tấn Phát dịch

Tôi đã viết về viên thủy thạch Mas được vị thầy là ông Hirotsu tặng. Đó không phải là một viên thủy thạch gây chú ý ngay tức khắc, mà cần một sự suy tư lâu dài trong tĩnh lặng mới thưởng nghiệm được. Theo đó, Mas kể rằng anh không hề hiểu được hòn đá khi ông Hirotsu đem tặng. Phải qua nhiều năm sau Mas mới hiểu ra vị thầy Hirotsu đã gắng dẫn dắt anh, thông qua thủy thạch, vào thế giới Thiền.

Dĩ nhiên Mas cũng thích những viên đá nhiều kịch tính và thậm chí đôi khi một số đá sặc sỡ nữa, nhưng chính những hòn thủy thạch yên tĩnh, nhẹ nhàng, sâu lắng thấm vào tâm hồn mới thực sự thu hút Mas. Điều này có thể cảm nhận được từ viên đá Mas đặt tên là “Đạt Ma”. Giống như viên đá của ông Hirotsu, nó có những chiều sâu thẳm chờ ta khám phá.

Mùa hè vừa rồi tôi cùng với vài người bạn đi tìm đá ở Bắc California. Tôi không dự tính sẽ tìm đá cho mình mà chỉ đi chung vui với bạn hữu và hướng dẫn họ tới các nơi tìm đá. Một trong các điểm dừng, dĩ nhiên là một bãi đá trên sông Klamath, nằm sâu trong rừng núi Klamath ở California, một chỗ tìm đá mà Mas và tôi yêu thích.

Tôi chọn một chỗ phong cảnh tuyệt đẹp nhìn xuống dòng sông, và rải một ít tro cốt của Mas. Gần như ngay lập tức tôi nhìn xuống và thấy một viên đá nhỏ và tuyệt, làm tôi nhớ ngay đến viên đá của ông Hirotsu.

Hai người bạn thân Phát và Trang cũng đi cùng chuyến tìm đá này. Phát học cách làm đế của Mas và qua nhiều năm tháng chúng tôi đã thảo luận về nghệ thuật và tinh tuý của môn thủy thạch. Vào lúc ăn trưa tôi đem hòn đá nhỏ ra và hỏi thử Phát có thể làm cái đế gỗ cho hòn đá không, thì anh chàng vui vẻ đồng ý.

Mới đây Phát và Trang đến California và đem đến viên thủy thạch hoàn tất. Tôi đã quên mất vẻ đẹp của viên đá — giờ đây đã thành một viên thủy thạch hoàn hảo với cái đế gỗ thanh tú do Phát làm, nó trông tuyệt hảo.

Khó nói hết được niềm vui của tôi khi ngắm nhìn bộ ba viên thủy thạch này, một viên của người thầy của Mas, một viên của Mas, và một viên từ người học trò của Mas. Tôi chỉ có thể ước mong rằng sẽ có ngày tôi chạm đến chốn tinh thần mà những hòn thủy thạch này dẫn dắt ta vào.

Plum Blossoms

Plum Blossoms
Phat Vo

We were born in the tropical part of the country of Vietnam and grew up with images of “yellow plum blossoms,” Ochna integerrima, or “mai” in Vietnamese, every lunar New Year. In school we learned of many poems involving plum blossoms. Little did we know that the plum in ancient East Asian literature is of a different type, Prunus mume.

Plum, or mei in Chinese (ume in Japanese, or mai in Vietnamese) was loved by the literati class since ancient times. But it was not until the Song Dynasty that plum was the plant front and center in philosophy, art, and literature. The neo-Confucian philosopher, Zhu Xi, associated plum tree with four virtues of heaven. The hermit, Lin Bu, called plum his soul mate, and his poem on plum ever since has been considered the best on plum blossoms in Chinese literature. The Zen monk, Shi Zhongren, invented the ink wash painting of plum blossoms on silk. The great literati, Su Shi, praised plum blossoms with phrases like “Bones of Jade, Soul of Ice”. The poet, Lu Yu, wished to transform his body into a million incarnations, each under a plum tree to appreciate it fully. The list goes on and on.

Later this love of plum blossoms has been transmitted to other countries in East Asia. In Japan the use of plum blossoms in art had grown strong among the Zen circles. Eihei Dogen wrote a lively treaty on plum blossoms. Ikkyu Sojun, Hakuin Ekaku, Ryōkan Taigu, Matsuo Basho and Sesshu Toyo contemplated over life with poems about plum blossoms or paintings of plum blossoms.

Plum - kitchen

Plum - tea, wine

As we love Japanese culture, and especially as we are into suiseki art, we naturally love plum blossoms. Plum blossom images are everywhere in our kitchen utensils. Plum trees and blossoms are in our sake containers, tea pots, tea bowls, and tea cups. We have ranma (transoms) with plums. We have a few woodblock prints with plum blossoms and bush warblers. We enjoy suiseki with images of plum blossoms from suiseki club members, and wish some day to find a beautiful plum imaged suiseki. And the funny thing was that we had never seen real plum blossoms.

In February 2020 we planned to go to Japan to see the suiseki exhibition and later to experience some plum blossom festivals in Kyoto. The trip was canceled due to COVID-19. We then used our saved vacation in 2020 and 2021 to travel in the USA to find stones, and unexpectedly we found some beautiful ume suiseki. Was it karma?

Ume and Uguisu (Plum and warbler)
Ume and Uguisu (Plum and warbler) WxHxD 8×4.5×4 in

In January 2022 we overheard that plum trees were blooming at The Huntington Library; we arranged with Jim Greaves to meet with him there to view the plum blossoms, first time for us, and to see Jim’s wonderful suiseki collection at The Huntington. Our excitement spread to Jim. Later that day we came over and stayed overnight at Jim’s house. There in his Japanese tea room under the dim light we enjoyed one of the best suiseki, collected years ago on the Merced River by Jim’s deceased wife Alice, named “Ume over Lake Biwa.” That was a perfect weekend.

Huntington Library- Jim and Phat
Huntington Library- Jim and Phat
Huntington Library - Lisa and Phat
Huntington Library – Lisa and Phat
Huntington Library, Japanese Garden - Plum
Huntington Library, Japanese Garden – Plum
Huntington Library, Japanese Garden - Plum Blossoms
Huntington Library, Japanese Garden – Plum Blossoms
Alice Greaves, “Ume over Lake Biwa”, Merced River
Alice Greaves, “Ume over Lake Biwa”, Merced River

Nowadays mei is everywhere. Its image becomes an object of kitschy conformity. But it need not be so. The culture of East Asia has long loved mei for its beauty and admired mei for its spirit. Mei often associates with men of conscience of their day, who could not remain silent before the injustices of the world, who gave honest assessments to the Emperors or their superiors, who were seldom listened to, often punished, sometimes with death. But even so, these gentlemen found solace in mei: its flowers might be destroyed by snow or rain, but the fragrance lingered long afterwards. In this land while we enjoy the beauty and fragrance of mei, our minds could not but recall the spirits of these noblemen of the past, while our hearts go out to the men and women of conscience of today.

Source: http://aisekikai.com/resources/February+newsletter+22.pdf

Trang and Phat, “Ume” (Plum Blossoms) WxHxD 6×4.5×4.5 in
Trang and Phat, “Ume” (Plum Blossoms) WxHxD 6×4.5×4.5 in


Mai

Võ Tấn Phát

Chúng tôi sinh ra ở xứ nóng miền Nam Việt Nam, và khi lớn lên Tết nào cũng thấy mai vàng, tên khoa học là Ochna Integerrima. Trong trường học chúng tôi đọc nhiều bài thơ về mai, mà không hề biết mai trong thơ văn cổ điển Đông Á là loài mai khác, tên khoa học là Prunus Mume.

Mai — tiếng Trung Hoa là mei, tiếng Nhật là ume, tiếng Anh là plum, hay đôi khi là apricot — được giới văn nhân Trung Hoa yêu thích từ xa xưa. Nhưng phải đến thời Tống, mai mới đứng đầu các loài thảo mộc trong triết học, nghệ thuật, và thơ văn. Nhà triết học Tống Nho, Chu Hi, cho rằng mai có bốn đức lớn của trời đất. Vị ẩn sĩ Lâm Bô coi mai là vợ, và bài thơ của ông vẫn được coi là bài thơ vịnh mai hay nhất trong văn chương Trung Hoa. Thiền sư Thích Trọng Nhân khởi đầu môn vẽ mai bằng thủy mặc trên lụa. Đại văn hào Tô Thức đã tôn sùng mai bằng những câu như “Xương ngọc, hồn băng”. Nhà thơ Lục Du ước gì thân mình được hoá thành trăm nghìn mảnh để mỗi mảnh nằm dưới mỗi gốc mai. Danh sách đó kéo dài vô hạn.

Tình yêu mai sau đó đã lan sang các nước Đông Á khác. Ở Nhật Bản hình ảnh hoa mai bàng bạc khắp chốn Thiền môn. Vĩnh Bình Đạo Nguyên viết một bài pháp ngữ sống động về hoa mai. Nhất Hưu Tông Thuần, Bạch Ẩn Huệ Hạc, Lương Khoan Đại Ngu, Tùng Vĩ Ba Tiêu, Tuyết Chu Đẳng Dương suy ngẫm về nhân sinh qua thơ văn về mai hay họa phẩm vẽ mai.

Vì chúng tôi yêu văn hoá Nhật, và nhất là vì chúng tôi mê đắm nghệ thuật thủy thạch, lẽ tự nhiên là chúng tôi yêu mai. Hình ảnh mai có khắp nơi trên các vật dụng trong nhà bếp. Mai cũng có cùng khắp trên bình rượu, bát trà, bình trà, chén uống trà. Nhà chúng tôi trang trí bằng khung cửa sổ gỗ của Nhật khắc hình mai. Chúng tôi mua những bức tranh khắc gỗ có hoa mai và chim oanh. Chúng tôi yêu thích những hòn thủy thạch hình mai của những thành viên của các hội thủy thạch, và ước một ngày nào đó tìm được một hòn thủy thạch hình mai. Điều nực cười là chúng tôi chưa hề thấy mai thật ngoài đời.

Vào tháng hai năm 2020 chúng tôi đã chuẩn bị tất cả mọi thứ để du lịch Nhật Bản, đến tham quan cuộc triển lãm thủy thạch quan trọng, rồi đến Kyoto tham dự các hội hoa mai. Chuyến đi bị hủy bỏ vì COVID-19. Trong hai năm 2020 và 2021 chúng tôi để dành những ngày nghỉ phép để đi dạo khắp nước Mỹ tìm đá. Rồi bất ngờ chúng tôi tìm được vài hòn thủy thạch hình mai rất tuyệt. Có duyên nợ gì nhau chăng?

Tháng giêng năm 2022 chúng tôi đọc được tin ở Huntington Library hoa mai đang nở ở vườn Trung Hoa và vườn Nhật, nên chúng tôi sắp xếp với ông Jim Greaves gặp nhau để ngắm hoa, là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy hoa mai, và sẵn dịp thưởng thức bộ sưu tập thủy thạch của ông ở đó. Sự hào hứng của chúng tôi cũng lây sang Jim. Tối đó chúng tôi đến nghỉ lại nhà của Jim. Trong căn trà thất kiểu Nhật, dưới ánh sáng mờ ảo, chúng tôi được thưởng ngoạn một trong những viên thủy thạch đẹp nhất, “Mai trên Hồ Tỳ Bà”, do người vợ quá cố Alice của ông tìm thấy nhiều năm trước trên sông Merced. Một kỷ niệm cuối tuần tuyệt hảo!

Hôm nay mai có mặt khắp nơi. Hình ảnh mai trở thành thời thượng sếnh sáo. Nhưng mai đâu phải thế. Nền văn hoá Đông Á từ xưa đã yêu mai vì đẹp và kính mai vì thần. Mai thường đồng hành với những bậc quân tử gánh vác lương tâm thời đại của họ, những người không thể lặng thinh trước bất công của thế gian, dám cất lời trung nghĩa với Hoàng đế hay với quan trên, ít được lắng nghe, thường bị trừng phạt, đôi khi bị xử chết. Nhưng dù vậy, họ vẫn tìm được niềm an ủi ở mai: dù hoa mai có bị vùi dập tan nát trong mưa bão tuyết giá, hương mai vẫn lưu mãi về sau. Ở chốn này khi chúng ta vui hưởng vẻ đẹp và hương thơm của mai, trí ta không khỏi nhớ lại khí phách của những bậc trượng phu của quá khứ, tâm ta không khỏi hướng về những tù nhân lương tâm của hôm nay.

Nguồn: http://aisekikai.com/resources/February+newsletter+22.pdf

“Klamath Forest” — Janet Roth

3657CAF2-CA8C-4541-8AD6-F4A9B0C94F22
“Klamath Forest”

Janet Roth

I found this stone at Black Butte Lake on one of our early trips together with Mas Nakajima. I was sitting down on the rocks and looking at the stones around me and saw this one. It was simply sitting upright on the surface next to me as if waiting to be found. I called Mas over to look, and he went very quiet. Finally, he said, “I’ve been looking my entire life for this stone.” His love for the stone shows in the daiza, which he carved to firmly and gently cradle it while ensuring its best qualities were revealed. This stone does not have big flashy features demanding one’s attention, but this beautiful, quiet suiseki constantly reveals new depths to me over the years. As Mas would say, “you never get tired.”

This stone is 30.5 x 12.7 x 13.3 cm (12 x 5 x 5.25 inches). Photo: Sam Edge

Source: https://www.vsana.org/som-2021-05

“Rừng Klamath”
Janet Roth
Võ Tấn Phát dịch

Tôi tìm thấy viên đá này ở Hồ Black Butte trong một chuyến đi tìm đá chung đầu tiên với Mas Nakajima. Tôi ngồi xuống bãi đá, nhìn đá xung quanh tôi, và thấy viên đá này. Nó nằm trên mặt đất gần tôi, khoe phía đẹp nhất ra, cứ như chờ đợi được tìm thấy. Tôi gọi Mas lại nhìn viên đá và anh bỗng im lặng hẳn. Cuối cùng Mas nói: “Cả đời tôi cố gắng tìm một viên đá thế này.” Lòng yêu thích viên đá này được Mas thể hiện ở cái đế gỗ, mà anh đã chạm khắc để cái đế ôm lấy viên đá vừa vững chãi vừa thanh thoát, trong khi phô bày ra những phẩm chất đẹp nhất của viên đá. Viên đá này không có những đặc điểm hào nhoáng khiến ta chú ý ngay lập tức, nhưng viên thủy thạch yên tĩnh, xinh đẹp này cứ tiếp tục bộc lộ độ sâu lắng mới mẻ cho tôi thấy qua năm tháng. Như Mas thường nói: “mình không bao giờ thấy chán.”

Kích thước hòn đá này 30.5 x 12.7 x 13.3 cm (12 x 5 x 5.25 inches). Ảnh: Sam Edge

California Aiseki Kai 32nd Annual Viewing Stone Virtual Show

California Aiseki Kai 32nd Annual Viewing Stone Virtual Show

Our stones

9212A507-03FF-4CA9-AF2D-1843CCF588FF
“Ume” (Plum Blossoms)
A River in the United States
WxHxD 6×4.5×4.5 in

3510DCA8-CED5-4287-820A-21D9290D521B
Doha
Merced River
WxHxD 13×4.5×4.5 in

AA078173-AF36-4D65-9A5D-8BC8214C41AD
Shelter
Yuha Desert
WxHxD 9.5×6.5×6 in

Link: https://www.huntington.org/events/viewing-stones-online-show-2021

California Ái Thạch Hội – Triển Lãm Đá Hằng Năm – Năm thứ 32

Tụi mình có 3 hòn đá trong cuộc triển lãm trên mạng năm nay

Mai Hoa
Một con sông ở Mỹ

Thổ Pha (núi trên bình nguyên)
Sông Merced

Chỗ trú mưa
Sa mạc Yuha

Liên kết: https://www.huntington.org/events/viewing-stones-online-show-2021

The Importance of Books

Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole
Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole


The Importance of Books

Around 130 million books have been published in the history of humanity; a heavy reader will at best get through 6,000 in a lifetime. Most of them won’t be much fun or very memorable. Books are like people; we meet many but fall in love very seldom. Perhaps only thirty books will ever truly mark us. They will be different for each of us, but the way in which they affect us will be similar.

The core – and perhaps unexpected – thing that books do for us is simplify. It sounds odd, because we think of literature as sophisticated. But there are powerful ways in which books organise, and clarify our concerns – and in this sense simplify.

Centrally, by telling a story a book is radically simpler than lived experience. The writer omits a huge amount that could have been added in (and in life always – by necessity – is there). In the plot, we move from one important moment directly to the next – whereas in life there are endless sub-plots that distract and confuse us. In a story, the key events of a marriage unfold across a few dozen pages: in life they are spread over many years and interleaved with hundreds of business meetings, holidays, hours spent watching television, chats with one’s parents, shopping trips and dentist’s appointments. The compressed logic of a plot corrects the chaos of existence: the links between events can be made much more obvious. We understand – finally – what is going on.

Writers often do a lot of explaining along the way. They frequently shed light on why a character is acting as they do; they reveal people’s secret thoughts and motives. The characters are much more clearly defined than the people we actually encounter. On the page, we meet purer villains, braver more resourceful heroes, people whose suffering is more obvious or whose virtues are more striking than would ever normally be the case. They – and their actions – provide us with simplified targets for our emotional lives. We can love or revile them, pity them or condemn them more neatly than we ever can our friends and acquaintances.

We need simplification because our minds get checkmated by the complexity of our lives. The writer, on rare but hugely significant occasions, puts into words feelings that had long eluded us, they know us better than we know ourselves. They seem to be narrating our own stories, but with a clarity we could never achieve.

Literature corrects our native inarticulacy. So often we feel lost for words; we’re impressed by the sight of a bird wheeling in the dusk sky; we’re aware of a particular atmosphere at dawn, we love someone’s slightly wild but sympathetic manner. We struggle to verbalise our feelings; we may end up remarking: ‘that’s so nice’. Our feelings seem too complex, subtle, vague and elusive for us to be able to spell out. The ideal writer homes in on a few striking things: the angle of the wing; the slow movement of the largest branch of a tree; the angle of the mouth in a smile. Simplification doesn’t betray the nuance of life, it renders life more visible.

The great writers build bridges to people we might otherwise have dismissed as unfeasibly strange or unsympathetic. They cut through to the common core of experience. By selection and emphasis, they reveal the important things we share. They show us where to look.

They help us to feel. Often we want to be good, we want to care, we want to feel warmly and tenderly – but can’t. It seems there is no suitable receptacle in our ordinary lives into which our emotions can vent themselves. Our relationships are too compromised and fraught. It can feel too risky to be very nice to someone who might not reciprocate. So we don’t do much feeling; we freeze over. But then – in the pages of a story – we meet someone, perhaps she is very beautiful, tender, sensitive, young and dying; and we weep for her and all the cruelty and injustice of the world. And we come away, not devastated, but refreshed. Our emotional muscles are exercised and their strength rendered newly available for our lives.

Not all books necessarily contain the simplifications we happen to need. We are often not in the right place to make use of the knowledge a book has to offer. The task of linking the right book to the right person at the right time hasn’t yet received the attention it deserves: newspapers and friends recommend books to us because they work for them, without quite thinking through why they might also work for us. But when we happen to come across the ideal book for us we are presented with an extraordinarily clearer, more lucid, better organised account of our own concerns and experiences: for a time at least our minds become less clouded and our hearts become more accurately sensitive. Through books’ benign simplification, we become a little better at being who we always really were.

Source: https://www.theschooloflife.com/thebookoflife/the-importance-of-books/

Suiseki: Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole

Source: https://suisekiart.com/2017/01/02/lady-murasaki/

From Wikipedia:
Murasaki Shikibu (紫 式部, English: “Lady Murasaki”; c. 973 or 978 – c. 1014 or 1031) was a Japanese novelist, poet and lady-in-waiting at the Imperial court in the Heian period. She is best known as the author of The Tale of Genji, widely considered to be one of the world’s first novels, written in Japanese between about 1000 and 1012.

Tosa Mitsuoki illustration of Lady Murasaki writing.  c. late 17th C.
Tosa Mitsuoki illustration of Lady Murasaki writing. c. late 17th C.

Tầm quan trọng của sách
Võ Tấn Phát dịch

Khoảng 130 triệu đầu sách được xuất bản trong lịch sử nhân loại; một độc giả chuyên cần nhất cùng lắm chỉ có thể đọc khoảng 6000 cuốn trong đời. Phần lớn sách không thú vị hay đáng nhớ lắm. Sách cũng như người; ta gặp nhiều nhưng hiếm khi phải lòng ai. Có lẽ chỉ khoảng 30 cuốn sách thực sự ghi dấu ấn lên ta. Chúng sẽ khác nhau cho mỗi người, nhưng cái cách chúng ảnh hưởng lên chúng ta thì giống nhau.

Điều cốt lõi — và có lẽ không ngờ — mà sách đã làm cho ta là đơn giản hoá. Nghe thì kỳ quặc, vì ta nghĩ văn chương vốn phức tạp. Nhưng có những phương cách mà sách hệ thống lại, và làm rõ ràng hơn những điều ta quan tâm — và ở ý nghĩa này sách đơn giản hoá.

Điều chính yếu là, bằng cách kể một câu chuyện, một cuốn sách đã đơn giản hơn rất nhiều so với kinh nghiệm sống. Nhà văn đã bỏ đi một số lượng lớn những thứ có thể thêm vào (và trong đời thực — thì cần thiết — phải hiện diện ở đó). Trong cốt truyện, ta nhảy từ một khoảnh khắc quan trọng này sang khoảnh khắc kế tiếp — trong khi ngoài đời thì vô tận những phân đoạn của câu chuyện đó sẽ làm ta mất tập trung và rối trí. Trong một câu chuyện, những sự kiện quan trọng của một cuộc hôn nhân hiển lộ qua vài chục trang giấy: trong đời thực thì nó sẽ trải qua nhiều năm trời và đan xen với hàng trăm cuộc họp hành, những ngày lễ lạc, hàng giờ liền coi truyền hình, những lần trò chuyện với cha mẹ, mua sắm, và đến gặp nha sĩ. Cái trình tự hợp lý đơn giản hoá đó của cốt chuyện sẽ điều chỉnh lại sự hỗn loạn của đời sống: các mối liên hệ giữa các sự kiện trở nên rõ ràng hơn. Cuối cùng ta hiểu được điều gì đang diễn ra.

Nhà văn thường giải thích rất nhiều theo mạch chuyện. Họ thường làm sáng tỏ lý do tại sao một nhân vật lại hành động như vậy; họ bóc trần những suy nghĩ và những động cơ bí mật của con người. Những nhân vật trong sách như vậy được xác lập rõ ràng hơn nhiều so với những người mà ta thực sư gặp gỡ. Trên trang sách, ta gặp những kẻ thuần ác, những anh hùng dũng cảm hơn và tháo vát hơn, những con người mà đau khổ thì hiển nhiên hơn và đức hạnh thì nổi bật hơn so với trong đời thường. Họ — cùng với những hành động của họ — là những mục tiêu được đơn giản hoá cho đời sống tình cảm của ta hướng tới. Ta có thể yêu hay ghét, thương hại hay lên án họ dễ dàng hơn là làm thế với bạn bè hay người quen.

Ta cần đơn giản hoá bởi vì trí óc ta bị kiểm soát bởi rối rắm của cuộc đời. Nhà văn, trong những dịp hiếm hoi nhưng cực kỳ quan trọng, viết ra những cảm xúc lâu nay cứ lẩn tránh khỏi trí óc ta; các nhà văn đó biết rõ về ta hơn ta biết về chính mình. Họ dường như đang kể chuyện đời ta, nhưng với sự sáng sủa ta không thể nào đạt được.

Văn chương điều chỉnh lại sự thiếu khả năng diễn đạt tự bẩm sinh của ta. Rất nhiều khi ta cảm thấy không đủ chữ; ta có ấn tượng mạnh khi thấy chim bay lượn trên nền trời hoàng hôn; ta cảm được bầu không khí đặc biệt lúc bình minh; ta yêu mến phong thái hơi hoang dã nhưng đầy cảm thông của ai đó. Nhưng chúng ta rất khó khăn khi muốn diễn đạt những cảm xúc đó; rồi cuối cùng chỉ có thể nói: ‘tuyệt quá’. Cảm xúc của ta dường như quá phức tạp, quá vi tế, quá mơ hồ, và khó nắm bắt nên ta không thể diễn đạt thành lời. Một nhà văn lý tưởng sẽ tập trung vào những đặc điểm nổi bật: độ nghiêng của đôi cánh; chuyển động chậm chạp của cành cây lớn nhất; khoé miệng cười. Đơn giản hoá không hẳn phản bội cái sắc thái muôn vẻ của đời sống, mà nó làm đời sống rõ ràng hơn.

Những nhà văn vĩ đại xây những cây cầu tới những con người mà ta dễ bỏ qua như những kẻ kỳ cục hay khó thương. Họ cắt ngang qua cái cốt lõi kinh nghiệm chung của nhân loại. Bằng cách lựa chọn và nhấn mạnh, họ bóc trần ra những điều quan trọng chúng ta đều sở hữu. Họ cho ta biết phải nhìn vào đâu.

Họ giúp ta cảm nhận. Thường thì ta muốn là người thiện, ta muốn quan tâm tới tha nhân, ta muốn cảm thấy ấm áp và dịu dàng — nhưng ta không thể. Dường như không có những bầu chứa thích hợp trong đời sống bình thường của ta để trút hết tâm sự vào đó. Các mối quan hệ của ta thì dễ tổn thương và đầy bất trắc. Ta có thể cảm thấy quá mạo hiểm khi tỏ lòng tốt với ai đó để rồi không được đáp lại. Vì thế ta không thực hành cảm xúc; ta đóng băng. Nhưng rồi, trong những trang sách, ta gặp một ai đó, có lẽ cô rất xinh đẹp, dịu dàng, nhạy cảm, trẻ và sắp chết; và ta khóc cho cô gái và tất cả những tàn ác bất công của thế gian này. Và ta trải qua, không bị tổn hại, mà được làm mới. Những cơ bắp cảm xúc của ta được tập luyện và năng lượng cảm xúc hồi phục trong đời ta.

Không phải sách nào cũng nhất thiết chứa đựng những đơn giản hoá ta cần. Ta thường không ở đúng chỗ để tận dụng kiến thức mà một cuốn sách cung cấp. Việc liên kết một cuốn sách thích hợp cho đúng người vào đúng thời điểm vẫn chưa nhận được sự quan tâm xứng đáng: báo chí và bạn bè giới thiệu sách cho ta vì chúng hợp với họ, mà không nghĩ kỹ làm sao chúng cũng hợp với ta. Nhưng khi ta tình cờ bắt gặp một cuốn sách lý tưởng cho mình, ta được trình ra một tập hợp những quan tâm và kinh nghiệm của chính ta, cực kỳ rõ ràng, sáng sủa hơn, được hệ thống tốt hơn: ít ra vào lúc đó trí ta ít vẩn đục hơn và tim ta nhạy cảm hơn. Thông qua sự đơn giản hoá vô hại của sách, ta trở nên tốt hơn chút nữa trong khi trở thành chính con người thật của mình.

Thủy thạch: Lady Murasaki; đá sông Eel, California; đá do Mas Nakajima sưu tầm năm 2015 và làm đế bằng gỗ walnut cùng năm. Tặng phẩm cho Viện Bảo tàng Nghệ thuật Oakland ở California. Hình chụp của Trang Vo-Le.

Wikipedia:
Murasaki Shikibu (Kana: むらさきしきぶ; Kanji: 紫式部, Hán Việt: Tử Thức Bộ; 978—1019?) là biệt hiệu của một nữ văn sĩ cung đình thời Heian Nhật Bản, tác giả của cuốn tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, kiệt tác Truyện kể Genji (Nguyên Thị Vật Ngữ), được viết bằng tiếng Nhật vào khoảng năm 1000 đến 1012.

To The Other Shore

3C7AE7D5-A1B5-400D-BA46-9AB0FD55D2AF
To The Other Shore, Eel River, WxHxD 11x3x3 in. Photo by Eric Stoner

To The Other Shore
Phat Vo

On a trip to the Eel River in 2015, we crisscrossed the river and wandered for miles. As usual, we picked up and carried in our backpacks several potentially good stones. Then Lisa found a long, skinny, and curving stone. She called me over to tell me she found a bridge stone. When I saw it, I was startled and told Lisa that it was a beautiful boat. And I told her that we had to wrap it in all the extra clothes we carried, throw out all the rocks in her backpack, and just carry that wrapped boat stone home in her pack. A little surprised and annoyed by my reaction, Lisa was at first hesitant but then found the boat worthy of our extra care.

That same year we displayed it at the annual California Aiseki Kai exhibition at The Huntington. Everyone was talking about our boat. Don Kruger joked about slipping it into his pocket and taking it home for himself. Nina Ragle could not find a better boat stone in her collection. In his lecture, Larry Ragle mentioned that there was a fine example of a boat stone that could be seen in the exhibition, and as a result many visitors came up asking about our boat stone. Jim Greaves offered to trade a ‘boat load’ of boat stones for ours; the only bad thing is that every year since, he has looked at our stones, shook his head and teased us that since finding the boat stone we have gone downhill in our ability to find great suiseki.

In the East and West boats have been significant in literature and in art. In Greek mythology the ferryman Charon carried the deceased souls on his boat to the world of death. In East Asia, boats are everywhere. Landscape ink paintings often include boats as one of the few elements indicating the presence of man. Chinese people romanticized the death of the Poet Immortal, Li Po, with a version of him drunken on a boat, jumping into the river to embrace the reflection of the moon. The most well-known Chinese poem is about a sleepless literati man on a boat at midnight near the famous Cold Mountain Buddhist Temple. The great Japanese painter’s pen name was Sesshu, or Snow Boat. The most well known Japanese woodblock print, Hokusai’s The Wave, depicts three small boats in an angry sea. One of the best Chinese literature figures, Su Dongpo, often wrote about his journeys on a boat at night. Buddha compared his teaching as a means to find truth, to a boat as a means to cross over a river; and so his teaching was not a thing to hold onto, just as there was no reason to continue to drag the boat along on land. The most famous Buddhist sutra (teaching) is the Heart Sutra; the name of our stone derives from its concluding mantra (sacred utterance) that urges Buddhists to bravely cross ‘to the other shore’ to reach enlightenment.

Note: The Heart Sutra
https://plumvillage.org/sutra/the-heart-sutra/

Source: http://www.aisekikai.com/resources/July+newsletter+21.pdf


Qua Bờ
Võ Tấn Phát

Trong một chuyến đi tìm đá trên sông Eel vào năm 2015, hai đứa mình cứ lội qua lại hai bên sông và lang thang hàng mấy dặm. Như thường lệ, chúng tôi lượm bỏ vào ba lô vài hòn đá đẹp có tiềm năng. Rồi Trang tìm được một viên đá dài, mỏng và cong. Cô nàng gọi tôi tới khoe đã tìm được viên đá giống như chiếc cầu đá (bắc qua lạch nước). Vừa nhìn thấy tôi giật mình và bảo là viên đá hình thuyền này tuyệt đẹp. Rồi tôi nói Trang dùng mớ áo quần đem theo phòng hờ gói viên đá lại thật kỹ, bỏ hết những hòn đá trong ba lô ra, và chỉ mang viên đá này về là đủ. Hơi ngạc nhiên và bực mình vì phản ứng có vẻ quá đáng của tôi, Trang lúc đầu miễn cưỡng nhưng rồi cũng thấy hòn đá đẹp này đáng được nâng niu cẩn thận như vậy.

Cuối năm đó chúng tôi đem hòn đá đi triển lãm ở Ái Thạch Hội California ở Huntington Library. Ai ai cũng bàn luận về hòn đá. Don Kruger cười nói ông muốn tuồn nhẹ hòn đá này vào túi áo đem về nhà. Nina Ragle nói bà không tìm được hòn đá nào đẹp hơn trong bộ sưu tập của mình. Trong những buổi giới thiệu thủy thạch, Larry Ragle nhắc đến hòn đá hình thuyền của tụi mình đang triển lãm, và nhiều người đã đến hỏi về viên đá. Jim Greaves hỏi tụi mình đổi một lô lốc đá hình thuyền ông đang có ở nhà; chỉ có một chuyện hơi phiền với hòn đá này là những năm sau đó, mỗi lần nhìn đá tụi mình đem tới, Jim lại lắc đầu và nói giỡn là đá của tụi mình xuống dốc mất rồi.

Ở cả Phương Đông lẫn Phương Tây thuyền có địa vị quan trọng trong văn chương nghệ thuật. Trong thần thoại Hy Lạp người đưa đò Charon chở linh hồn những người mới chết trên con thuyền của mình sang thế giới người chết. Đặc biệt ở Đông Á, thuyền có mặt khắp nơi. Tranh phong cảnh thủy mặc thường có một chiếc thuyền để đánh dấu sự hiện diện của con người. Người Trung Hoa thi vị hoá cái chết của vị Thi Thánh của họ, Lý Bạch, bằng huyền thoại khi về già ông say rượu trên thuyền và nhảy xuống nước ngỡ ôm trăng. Bài thơ nổi tiếng nhất của Trung Hoa tả lại lúc nửa đêm một thi nhân mất ngủ trên chiếc thuyền ở gần Hàn San Tự. Bút hiệu của họa sĩ vĩ đại nhất của Nhật Bản là Sesshu, Tuyết Chu, hay Thuyền Tuyết. Bức tranh khắc gỗ nổi tiếng nhất của Nhật Bản, Sóng của Hokusai, có hình ba chiếc thuyền nhỏ giữa biển khơi cuồng nộ. Một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn chương Trung Hoa, Tô Đông Pha, cũng thường tả những chuyến đi thuyền trên sông vào ban đêm. Đức Phật so sánh những lời dạy của ngài như một phương tiện để tìm ra chân lý, cũng như chiếc thuyền là phương tiện qua sông; vì thế không cứ khư khư đeo bám vào những lời dạy đó, cũng như không có lý do gì cứ kéo theo chiếc thuyền trên bộ sau khi đã qua sông. Bài kinh nổi tiếng nhất của Đạo Phật là Bát Nhã Tâm Kinh; tên của hòn đá được lấy từ câu thần chú cuối bài thúc giục hành giả hãy nhất quyết ‘qua bờ’ để đạt giác ngộ viên mãn.

Đã đăng trên Nguyệt san của Ái Thạch Hội California: http://www.aisekikai.com/resources/July+newsletter+21.pdf

The Suiseki Art of Mas Nakajima

EBFBB08F-89A4-4A6E-896B-9A4F86B09B2F
From Mas and Janet’s suiseki collection


The Suiseki Art of Mas Nakajima

Mas Nakajima and Janet Roth

My sculpture combines natural stone and wood to create harmony by integrating the life of wood with the simplicity and purity of natural stone. I begin by finding stones in riverbeds and mountains in California, and keep the stones until I am ready to integrate them with the chosen wood. The process of unifying these two materials, by specific selection and by accidental match, results in unexpected and endless possibilities.

Working with wood and stone is very familiar to me, having been born and raised in a traditional Japanese-style wooden house, in a small town near the Japan Alps, surrounded by mountains, rivers, and forests. Twenty-five years of building and designing houses in the Bay Area developed my aesthetic sensibility and my understanding of the relationship between an object and the surrounding space.

The use of natural rocks in my art originates from suiseki, a Japanese form of stone appreciation that has over a thousand years of history. We invite you to join us here to study and discuss suiseki art, both traditional Japanese suiseki and new forms of natural stone art.

Source: https://suisekiart.com/suiseki-art/

—————

39133318-7826-440E-9EFC-C6A545899044
From Mas and Janet’s suiseki collection


Nghệ thuật Thủy thạch của Mas Nakajima

Mas Nakajima và Janet Roth
Võ Tấn Phát dịch

Tác phẩm điêu khắc của tôi kết hợp đá tự nhiên và gỗ nhằm tạo ra sự hài hoà bằng cách kết hợp sự sống động của gỗ với sự đơn giản và thuần khiết của đá. Tôi bắt đầu bằng việc đi tìm đá dưới lòng sông hay trên núi ở California, và để những hòn đá đó riêng ra đến khi tôi sẵn sàng hợp nhất chúng với loại gỗ được chọn. Quá trình hợp nhất hai loại vật liệu này, bằng sự lựa chọn đặc biệt cũng như tác hợp ngẫu nhiên, đưa đến những khả năng bất ngờ và vô tận.

Làm việc với gỗ và đá là chuyện quen thuộc với tôi, vì tôi sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà gỗ truyền thống của Nhật, trong một ngôi làng nhỏ gần rặng núi Alps Nhật Bản, vây quanh là núi, sông, và rừng rậm. Hai mươi lăm năm xây dựng và thiết kế nhà ở vùng Vịnh San Francisco này đã giúp phát triển cảm năng mỹ học của tôi và sự am hiểu mối quan hệ giữa một vật và không gian xung quanh.

Việc dùng đá tự nhiên trong nghệ thuật của tôi bắt nguồn từ thủy thạch, một hình thức thưởng ngoạn đá của Nhật với cả ngàn năm lịch sử. Mời các bằng hữu hãy cùng chúng tôi đến đây học hỏi và thảo luận về nghệ thuật thủy thạch, gồm cả thủy thạch truyền thống Nhật Bản và những hình thức mới về nghệ thuật đá tự nhiên.

—————

Janet and Mas’s blog: https://suisekiart.com

On Yosemite and this suiseki: https://suisekiart.com/2016/06/18/yosemite-falls/

Some of Mas’s amazing art works: https://jtroth.smugmug.com/Art/Suiseki-Art/Mas-Nakajima-Suiseki-Art/

Interview with Janet and Mas: http://m.dailygood.org/story/1796/suiseki-the-japanese-art-of-stone-appreciation-richard-whittaker/

A tribute to Mas: https://bonsaitonight.com/2018/09/18/the-suiseki-art-of-mas-nakajima/

Wabi-sabi

95789890-AD27-4881-AEA1-45364EFF330D
“Wabi-sabi,” Mas Nakajima and Janet Roth’s suiseki collection, photo by Mas Nakajima

“Wabi-sabi is a beauty of things imperfect, impermanent, and incomplete.
It is a beauty of things modest and humble.
It is a beauty of things unconventional.”

“Wabi-sabi is not found in nature at moments of bloom and lushness, but at moments of inception or subsiding. Wabi-sabi is not about gorgeous flowers, majestic trees or bold landscapes. Wabi-sabi is about the minor and the hidden, the tentative and the ephemeral: things so subtle and evanescent they are invisible to vulgar eyes.”

Source: Leonard Koren, Wabi-Sabi for Artists, Designers, Poets and Philosophers

AA823734-81E7-4894-BFB2-6B7399F382C3

Suiseki named “Wabi-Sabi” from Klamath River, California, in Mas Nakajima and Janet Roth’s collection.

Picture source: https://jtroth.smugmug.com/San-Francisco-Suiseki-Kai/Exhibits/SFSK-2016-Exhibit/i-Xrjc5tJ/A

—————

“Wabi-sabi là vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, vô thường, và bất toàn.
Đó là vẻ đẹp của những thứ bình dị và khiêm nhường.
Đó là vẻ đẹp của những thứ phi truyền thống.”

“Wabi-sabi không thể tìm thấy trong thiên nhiên ngay lúc nở rộ hay xanh tốt, mà vào lúc khởi mầm hay khi đã lắng dịu xuống. Wabi-sabi không phải là vẻ đẹp của một đóa hoa rực rỡ, một thân cây oai phong hay một phong cảnh kỳ vĩ. Wabi-sabi là về cái nhỏ bé và cái bí ẩn, cái bất định và cái vô thường: những thứ quá tinh tế và phù du không thể nhìn thấy bằng mắt tục.”

—————

Wabi-sabi – 侘寂 – sá tịch

Ensō

1CFAD43F-94B8-432A-AD6A-C625330073F2
Kern River stone, WxHxD 7x8x4.5 in, Trang and Phat’s suiseki collection, photo by Brent Meran

 

Ensō
Audrey Yoshiko Seo

Zen circles, ensō, are symbols of teaching, reality, enlightenment, and a myriad of things in between. Seemingly perfect in their continuity, balance, and sense of completeness, and yet often irregular in execution, ensō are at once the most fundamentally simple and the most complex shape. They seem to leave little room for variation, and yet in the hands of Zen masters, the varieties of personal expression are endless. Ensō evoke power, dynamism, charm, humor, drama, and stillness.

Source: Audrey Yoshiko Seo, Ensō: Zen Circles of Enlightenment

BEFF69F7-1D26-4D3C-AB91-F79428C1B41D

—————

70DB9378-072B-46EE-A275-D29B80A9BAB4
At San Francisco Suiseki Kai exhibition in Japantown San Francisco on August 3 – 4, 2019. Photo by Brent Meran

 

Ensō (Viên Tương)
Audrey Yoshiko Seo
Võ Tấn Phát dịch

Vòng tròn Thiền, ensō (viên tương), là biểu tượng của truyền dạy, thực tại, giác ngộ, và vô vàn thứ trung gian. Dường như hoàn hảo trong sự liên tục, cân bằng, và tròn vẹn, nhưng thường bất nhất khi thực hiện, những hình ensō ngay tức thì đơn giản nhất mà cũng phức tạp nhất. Chúng có vẻ như không có kẽ hở cho biến tấu, nhưng trong tay của các thiền sư, sự đa dạng trong biểu đạt cá tính là vô tận. Vòng ensō gợi nên sức mạnh, năng động, mê hoặc, hài hước, kịch tính, và tĩnh lặng.

—————

In Zen, ensō (円相 , “circle”) is a circle that is hand-drawn in one or two uninhibited brushstrokes to express a moment when the mind is free to let the body create (from wikipedia.)

Trong Thiền tông, ensō (円相 viên tương) là một vòng tròn vẽ bằng một hoặc hai nét không nghi ngại để biểu lộ khoảng khắc tâm trí được tự do để thân tự sáng tạo.

I built my hut in a zone of human habitation – Tao Qian

912A83FB-B249-4B2A-AEE1-DA79EE2483F7
Chrysanthemum Stone from National Bonsai Foundation’s suiseki collection.

I built my hut in a zone of human habitation
Tao Qian
Translated by Arthur Waley

I built my hut in a zone of human habitation,
Yet near me there sounds no noise of horse or coach.
Would you know how that is possible?
A heart that is distant creates a wilderness round it.
I pluck chrysanthemums under the eastern hedge,
Then gaze long at the distant summer hills.
The mountain air is fresh at the dusk of day:
The flying birds two by two return.
In these things there lies a deep meaning;
Yet when we would express it, words suddenly fail us.

Source: https://en.m.wikisource.org/wiki/I_built_my_hut_in_a_zone_of_human_habitation

—————

Nguyên văn chữ Hán

飲酒
陶潛

結廬在人境,
而無車馬喧。
問君何能爾,
心遠地自偏。
採菊東籬下,
悠然見南山。
山氣日夕佳,
飛鳥相與還。
此還有真意,
欲辨已忘言。

Phiên âm Hán-Việt

Ẩm tửu
Đào Tiềm

Kết lư tại nhân cảnh,
Nhi vô xa mã huyên.
Vấn quân hà năng nhĩ,
Tâm viễn địa tự thiên.
Thái cúc đông ly hạ,
Du nhiên kiến Nam sơn.
Sơn khí nhật tịch giai,
Phi điểu tương dữ hoàn.
Thử hoàn hữu chân ý,
Dục biện dĩ vong ngôn.

Nguồn: https://www.thivien.net/Đào-Tiềm/Ẩm-tửu-kỳ-5/poem-zr_-r6jQHVjRZxxm3vFUSg

Dịch thơ

Uống rượu
Đào Tiềm
Nguyễn Hiến Lê dịch

Nhà cỏ giữa nhân cảnh,
Không thấy ồn ngựa xe.
Hỏi ông: “Sao được vậy ?”
Lòng xa, đất tự xa.
Hái cúc dưới giậu đông,
Thơ thới nhìn núi Nam.
Khí núi ánh chiều đẹp,
Chim bay về từng đàn.
Trong cảnh có thâm vị,
Muốn tả đã quên lời.

Nguồn: Đại cương văn học sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê

—————
Tao Qian 陶潛 (365-427), or Tao Yuanming 陶淵明: Chinese poet, known for his love of chrysanthemums.

Đào Tiềm 陶潛 (365-427), tự Uyên Minh 淵明: nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng yêu thích hoa cúc.

—————

Chrysanthemum Stone from National Bonsai Foundation’s suiseki collection.

Cúc hoa thạch trong bộ sưu tập thủy thạch của Hội Bonsai Quốc Gia Hoa Kỳ

https://www.bonsai-nbf.org/viewing-stone-collection/