Too Loud a Solitude — Bohumil Hrabal

New York City Library Walk, Plaque 43
New York City Library Walk, Plaque 43


Too Loud a Solitude

Bohumil Hrabal
Translation into English by Michael Henry Heim

Chapter 1 (Excerpt)

For thirty-five years now I’ve been in wastepaper, and it’s my love story. For thirty-five years I’ve been compacting wastepaper and books, smearing myself with letters until I’ve come to look like my encyclopedias — and a good three tons of them I’ve compacted over the years. I am a jug filled with water both magic and plain; I have only to lean over and a stream of beautiful thoughts flows out of me. My education has been so unwitting I can’t quite tell which of my thoughts come from me and which from my books, but that’s how I’ve stayed attuned to myself and the world around me for the past thirty-five years. Because when I read, I don’t really read; I pop a beautiful sentence into my mouth and suck it like a fruit drop, or I sip it like a liqueur until the thought dissolves in me like alcohol, infusing brain and heart and coursing on through the veins to the root of each blood vessel. In an average month I compact two tons of books, but to muster the strength for my godly labors I’ve drunk so much beer over the past thirty-five years that it could fill an Olympic pool, an entire fish hatchery. Such wisdom as I have has come to me unwittingly, and I look on my brain as a mass of hydraulically compacted thoughts, a bale of ideas, and my head as a smooth, shiny Aladdin’s lamp. How much more beautiful it must have been in the days when the only place a thought could make its mark was the human brain and anybody wanting to squelch ideas had to compact human heads, but even that wouldn’t have helped, because real thoughts come from outside and travel with us like the noodle soup we take to work; in other words, inquisitors burn books in vain. If a book has anything to say, it burns with a quiet laugh, because any book worth its salt points up and out of itself. I’ve just bought one of those minuscule adder-subtractor-square-rooters, a tiny little contraption no bigger than a wallet, and after screwing up my courage I pried open the back with a screwdriver, and was I shocked and tickled to find nothing but an even tinier contraption — smaller than a postage stamp and thinner than ten pages of a book — that and air, air charged with mathematical variations. When my eye lands on a real book and looks past the printed word, what it sees is disembodied thoughts flying through air, gliding on air, living off air, returning to air, because in the end everything is air, just as the host is and is not the blood of Christ.

Source: https://www.amazon.com/Too-Loud-Solitude-Bohumil-Hrabal/dp/0156904586?ots=1&tag=thneyo0f-20&linkCode=w50

Bohumil Hrabal
Bohumil Hrabal

Quá Ồn Một Nỗi Cô Đơn
Bohumil Hrabal
Michael Henry Heim dịch sang Anh Ngữ
Võ Tấn Phát dịch Việt

Chương 1 (Trích)

Trong ba mươi lăm năm rồi tôi làm việc trong ngành giấy loại, và đó là chuyện tình đời tôi. Trong ba mươi lăm năm rồi tôi đã nén giấy loại và sách, bôi chữ lên bản thân cho tới khi tôi giống như những cuốn bách khoa toàn thư của tôi — hơn ba tấn giấy tôi đã nén hết chừng ấy năm. Tôi là một cái bình chứa nước, cả loại kỳ diệu lẫn loại thường; tôi chỉ cần nghiêng qua là cả một dòng ý nghĩ tuyệt vời chảy khỏi người tôi. Học vấn của tôi không có chủ đích gì nên tôi chẳng biết trong những ý nghĩ của tôi cái nào là từ chính tôi còn cái nào là từ sách vở, nhưng đó là cách tôi thích nghi với bản thân và với thế giới quanh tôi trong ba mươi lăm năm rồi. Bởi vì khi tôi đọc, tôi không chỉ đọc; tôi bỏ một câu văn đẹp vào miệng và mút nó như một viên kẹo trái cây, hoặc nhâm nhi nó như rượu mạnh, cho đến khi nó tan vào tôi như rượu cồn, thấm vào tim vào óc và chảy qua cơ thể tới cội nguồn của từng mạch máu. Trung bình một tháng tôi nén hai tấn sách, nhưng để có đủ sức làm công việc phi thường đó tôi phải uống quá nhiều bia trong ba mươi lăm năm, tới mức có thể đổ đầy một hồ bơi Olympic, hay một bể nuôi cá giống. Sự thông tuệ đó tôi đạt được không do chủ ý của tôi, và tôi coi óc tôi là một khối ý nghĩ được máy nén chặt xuống, một kiện ý tưởng, còn đầu tôi là một cái đèn bóng loáng của Aladdin. Đẹp đẽ xiết bao những ngày xưa đó khi một ý nghĩ chỉ tạo ra ảnh hưởng từ khối óc của con người, và kẻ nào muốn dập tắt ý nghĩ thì phải nghiến ép đầu người, nhưng dẫu thế cũng chẳng ăn thua, vì ý nghĩ thực sự đến từ bên ngoài và song hành với ta như món xúp mì sợi ta mang theo đi làm; nói cách khác, những pháp quan của toà án dị giáo đốt sách chỉ hoài công. Nếu một cuốn sách có điều gì đáng nói, thì nó vừa cháy vừa cười thầm, vì sách giá trị thì đáng giá hơn những gì nằm trong sách. Tôi vừa mua một cái máy tính cộng-trừ-bình phương-tính căn, một cái máy không lớn hơn cái ví đàn ông, và sau khi đã lấy hết can đảm tôi mở nắp sau của cái máy tính, để rồi vừa sốc vừa tức cười khi thấy nó không có gì ngoài cái máy nhỏ hơn — nhỏ hơn một con tem bưu điện và mỏng hơn mười trang sách — và không khí, không khí chứa đầy những biến số toán học. Khi mắt tôi chạm vào sách và nhìn vượt ra ngoài chữ in trên đó, con mắt thấy những ý nghĩ tách rời ra, bay trong không khí, lượn trên không khí, sống bằng không khí, và trở về với không khí, bởi vì cuối cùng thì mọi thứ đều là không khí, hệt như bánh thánh vừa là mà cũng vừa không phải là máu thịt của Chúa Giê-su.

The Kizaemon Tea-bowl – Soetsu Yanagi

Kizaemon Tea-bowl
Kizaemon Tea-bowl

The Kizaemon Tea-bowl (excerpt)
Soetsu Yanagi

… For a long time I wished to see this Kizaemon bowl. I had expected to see that “essence of Tea”, the seeing eye of Tea masters, and to test my own perception; for it is the embodiment in miniature of beauty, of the love of beauty, of the philosophy of beauty, and of the relationship of beauty and life. It was within box after box, five deep, buried in wool and wrapped in purple silk.

When I saw it, my heart fell. A good Tea-bowl, yes, but how ordinary! So simple, no more ordinary thing could be imagined. There is not a trace of ornament, not a trace of calculation. It is just a Korean food bowl, a bowl. Moreover, that a poor man would use everyday – commonest crockery.

A typical thing for his use; costing next to nothing; made by a poor man; an article without the flavour of personality; used carelessly by its owner; bought without pride; something anyone could have bought anywhere and everywhere. That’s the nature of this bowl. The clay had been dug from the hill at the back of the house; the glaze was made with the ash from the hearth; the potter’s wheel had been irregular. The shape revealed no particular thought: it was one of many. The work had been fast; the turning was rough, done with dirty hands; the throwing slipshod; the glaze had run over the foot. The throwing room had been dark. The thrower could not read.  The kiln was a wrenched affair; the firing careless. Sand had stuck to the pot, but nobody minded; no one invested the thing with any dreams. It is enough to make one give up working as a potter.

But that is how it should be. The plain and unagitated, the uncalculated, the  harmless, the straightforward, the natural, the innocent, the humble, the modest: where does beauty lie if not in these qualities? The meek, the austere, the un-ornate – they are the natural characteristics that gain man’s affection and respect.

From The Unknown Craftsmen

Source: http://www.morningearthkorea.org/the-kizaemon-ido/

Bát trà Kizaemon
Soetsu Yanagi
Võ Tấn Phát dịch

… Đã từ lâu tôi mơ ước được dịp nhìn thấy cái bát Kizaemon này. Tôi mong đợi được thấy cái “bản chất của Trà” đó, con mắt thấu triệt của các bậc Trà sư, và để kiểm tra nhận thức của chính tôi; bởi vì nó là hiện thân thu nhỏ của cái đẹp, của tình yêu cái đẹp, của triết lý về cái đẹp, của quan hệ giữa cái đẹp và đời sống. Cái bát được cất trong nhiều hộp, năm cái tất cả, giữa những đống len và bọc trong lụa tím.

Vừa thấy nó, tôi đã yêu thích rồi. Một cái bát trà đẹp, đúng thế, nhưng quá đỗi bình thường! Đơn giản đến mức không thể tưởng tượng ra thứ gì bình thường hơn. Không một nét trang trí, không một chút tính toán. Nó chỉ là một cái bát cơm, một cái bát Hàn Quốc. Hơn nữa, là vật dụng hàng ngày của người nghèo – thứ đồ sành sứ thông thường nhất.

Một vật dụng thường ngày; giá cả gần như cho không; do người cùng đinh làm ra; một món đồ không chút cá tính nào; người chủ dùng chiếc bát một cách vô tâm; mua bát cũng không mừng vui gì; cái món người ta có thể mua ở khắp nơi chỗ nào cũng có. Bản chất của cái bát này là vậy. Đất sét đào lên từ ngọn đồi sau nhà; men gốm làm từ tro trong lò sưởi; bàn xoay thợ gốm không đều. Hình dáng không cho thấy suy tư gì cả: đây chỉ là một trong nhiều cái bát khác. Công việc diễn ra nhanh chóng; cú xoay rất thô, bằng đôi tay bẩn; nắn gốm cẩu thả; men chảy xuống chân cái bát. Phòng làm gốm thì tối. Người thợ gốm không biết chữ. Lò nung là chỗ cực hình; việc nung gốm rất vô tâm. Cát dính vào món đồ; nhưng chẳng ai tận tâm; không ai để ý làm món đồ với mơ ước gì. Nó có thể làm người thợ muốn bỏ luôn nghề làm gốm.

Nhưng nó phải như vậy. Mộc mạc và không nghi ngại, không tính toán, vô hại, thẳng thắng, tự nhiên, hồn nhiên, nhỏ nhoi, khiêm tốn: cái đẹp ở đâu nếu không phải trong những phẩm chất này? Nhẫn nhục, khắc khổ, không tô điểm – đấy là những phẩm chất tự nhiên được người đời quý trọng.

Kizaemon – 喜左衛門 – Hỉ Tả Vệ Môn

34D950D0-BE07-44D6-B415-1DDFBBE725CA

The Magic of the Book — Herman Hesse

1857FF1D-03D6-45BB-AB37-B4827921FC52
The Magic of the Book
(excerpts)
Herman Hesse

Among the many worlds that man did not receive as a gift from nature but created out of his own mind, the world of books is the greatest… Without the word, without the writing of books, there is no history, there is no concept of humanity. And if anyone wants to try to enclose in a small space, in a single house or a single room, the history of the human spirit and to make it his own, he can only do this in the form of a collection of books.

The great and mysterious thing about this reading experience is this: the more discriminatingly, the more sensitively, and the more associatively we learn to read, the more clearly we see every thought and every poem in its uniqueness, its individuality, in its precise limitations and see that all beauty, all charm depend on this individuality and uniqueness — at the same time we come to realize ever more clearly how all these hundred thousand voices of nations strive toward the same goals, call upon the same gods by different names, dream the same wishes, suffer the same sorrows. Out of the thousandfold fabric of countless languages and books of several thousand years, in ecstatic instants there stares at the reader a marvelously noble and transcendent chimera: the countenance of humanity, charmed into unity from a thousand contradictory features.

Source: https://www.brainpickings.org/2016/06/07/the-magic-of-the-book-hermann-hesse-my-belief/

Sự kỳ diệu của sách
Hermann Hesse
Võ Tấn Phát dịch

Trong những thứ con người có được không phải là tặng phẩm từ thiên nhiên mà được tạo ra từ đầu óc của chính mình, sách là thứ vĩ đại nhất… Nếu không có chữ, sẽ không viết ra sách, thì sẽ không có lịch sử, không có khái niệm nhân loại. Và nếu bất kỳ người nào, trong một không gian nhỏ, trong một căn nhà hay trong một căn phòng, muốn dồn hết lịch sử của tinh thần nhân loại lại và biến nó thành tài sản của mình, hắn ta chỉ có thể làm vậy dưới dạng một bộ sưu tập sách.

Điều lớn lao và bí ẩn của kinh nghiệm đọc sách là thế này: khi ta học cách đọc càng riêng biệt, càng nhạy cảm, và càng liên đới nhau, thì ta thấy càng rõ ràng hơn mỗi suy tư và mỗi bài thơ trong cái cái duy nhất tính của nó, trong cái cá nhân tính của nó, và trong những giới hạn chính xác của nó, và thấy rằng tất cả cái đẹp, tất cả sự mê hoặc phụ thuộc vào cá nhân tính và duy nhất tính này — và cùng lúc đó ta càng thấy rõ hơn bằng cách nào mà hàng trăm ngàn giọng nói của các quốc gia gắng đạt được cùng những mục đích đó, cầu nguyện tới cùng các thánh thần dưới những tên gọi khác nhau, có cùng những mơ ước, chịu đựng cùng những nỗi đau buồn. Từ cấu trúc tầng tầng lớp lớp của vô số ngôn ngữ và sách của vài ngàn năm, trong những trường hợp ngất ngây nhất, độc giả đối diện với con quái vật cao thượng và siêu việt vô cùng: vẻ mặt của nhân loại, được hoá phép thành một thể thống nhất từ một ngàn nét đặc trưng trái ngược nhau.

42772759-B740-44CE-A53A-DBF6ADE73561

The Future of Reading – E.B. White

F37E00B8-7BCA-4163-BF5C-A54264240BE9


The Future of Reading
(excerpt)
E.B. White

Reading is the work of the alert mind, is demanding, and under ideal conditions produces finally a sort of ecstasy. As in the sexual experience, there are never more than two persons present in the act of reading — the writer, who is the impregnator, and the reader, who is the respondent. This gives the experience of reading a sublimity and power unequalled by any other form of communication.

Source: https://www.brainpickings.org/2013/10/24/e-b-white-on-the-future-of-reading-1951/

Tương lai của đọc (trích)
E.B. White
Võ Tấn Phát dịch

Đọc là công việc của một đầu óc tỉnh táo, đòi hỏi nhiều công sức, và dưới những điều kiện lý tưởng rốt cuộc sẽ tạo ra một trạng thái ngất ngây. Giống như kinh nghiệm tình dục, không bao giờ có nhiều hơn hai người hiện diện trong hành động đọc sách — người viết, là kẻ trao truyền, và người đọc, là kẻ đáp lại. Điều này đem lại cho kinh nghiệm đọc sách một sự tuyệt diệu và một sức mạnh lớn lao không một hình thức truyền thông nào khác có thể sánh bằng.

0AD1F55C-C98B-44BB-A9B2-6699CB6C681E

On Books – Kafka

2B914368-1C18-46DF-AB69-BE5F0F2D2A0D
Kafka, 1906

On Books
Franz Kafka

I think we ought to read only the kind of books that wound and stab us. If the book we’re reading doesn’t wake us up with a blow on the head, what are we reading it for? So that it will make us happy, as you write? Good Lord, we would be happy precisely if we had no books, and the kind of books that make us happy are the kind we could write ourselves if we had to. But we need the books that affect us like a disaster, that grieve us deeply, like the death of someone we loved more than ourselves, like being banished into forests far from everyone, like a suicide. A book must be the axe for the frozen sea inside us. That is my belief.

Source: Kafka’s letter to his childhood friend, the art historian Oskar Pollak on Jan 1904

https://www.brainpickings.org/2014/06/06/kafka-on-books-and-reading/

BACD982B-1589-46A9-9192-640234397910
Sách

Franz Kafka
Võ Tấn Phát dịch

Tôi nghĩ ta chỉ nên đọc những loại sách nào gây thương tích và đâm nhói thân ta. Nếu cuốn sách ta đang đọc không làm ta sực tỉnh với một cú giáng vào đầu, thì ta đọc nó làm gì? Để ta thấy hạnh phúc, như anh viết? Lạy Chúa, ta sẽ hạnh phúc thực sự nếu không có sách, và loại sách làm chúng ta hạnh phúc là loại sách ta có thể tự mình viết ra được nếu ta bắt buộc phải viết. Nhưng chúng ta cần những cuốn sách ảnh hưởng lên ta như một tai họa, làm ta đau buồn sâu sắc, như cái chết của một người ta yêu thương hơn cả chính bản thân mình, như bị xua đuổi vô rừng sâu cách xa loài người, như tự sát. Một cuốn sách giống như một cái rìu để dùng cho đại dương đông cứng trong ta! Tôi tin như vậy!

Nguồn: thư của Kafka viết cho người bạn thân thời niên thiếu, nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Oskar Pollak vào tháng 1 năm 1904

Of Studies – Francis Bacon

1CDE28B7-F1EF-49D5-880F-47A18F44A42F
Photo credit: Wikipedia

Of Studies
Francis Bacon

Studies serve for delight, for ornament, and for ability. Their chief use for delight, is in privateness and retiring; for ornament, is in discourse; and for ability, is in the judgment, and disposition of business. For expert men can execute, and perhaps judge of particulars, one by one; but the general counsels, and the plots and marshalling of affairs, come best, from those that are learned. To spend too much time in studies is sloth; to use them too much for ornament, is affectation; to make judgment wholly by their rules, is the humor of a scholar. They perfect nature, and are perfected by experience: for natural abilities are like natural plants, that need proyning, by study; and studies themselves, do give forth directions too much at large, except they be bounded in by experience. Crafty men contemn studies, simple men admire them, and wise men use them; for they teach not their own use; but that is a wisdom without them, and above them, won by observation. Read not to contradict and confute; nor to believe and take for granted; nor to find talk and discourse; but to weigh and consider. Some books are to be tasted, others to be swallowed, and some few to be chewed and digested; that is, some books are to be read only in parts; others to be read, but not curiously; and some few to be read wholly, and with diligence and attention. Some books also may be read by deputy, and extracts made of them by others; but that would be only in the less important arguments, and the meaner sort of books, else distilled books are like common distilled waters, flashy things. Reading maketh a full man; conference a ready man; and writing an exact man. And therefore, if a man write little, he had need have a great memory; if he confer little, he had need have a present wit: and if he read little, he had need have much cunning, to seem to know, that he doth not. Histories make men wise; poets witty; the mathematics subtile; natural philosophy deep; moral grave; logic and rhetoric able to contend. Abeunt studia in mores. Nay, there is no stond or impediment in the wit, but may be wrought out by fit studies; like as diseases of the body, may have appropriate exercises. Bowling is good for the stone and reins; shooting for the lungs and breast; gentle walking for the stomach; riding for the head; and the like. So if a man’s wit be wandering, let him study the mathematics; for in demonstrations, if his wit be called away never so little, he must begin again. If his wit be not apt to distinguish or find differences, let him study the Schoolmen; for they are cymini sectores. If he be not apt to beat over matters, and to call up one thing to prove and illustrate another, let him study 197 the lawyers’ cases. So every defect of the mind, may have a special receipt.

Source: http://www.authorama.com/essays-of-francis-bacon-50.html

Học
Francis Bacon
Võ Tấn Phát dịch

Học là để thưởng thức, để trang trí, và để rèn luyện năng lực. Học để thưởng thức, chủ yếu là trong lúc riêng tư và nghỉ ngơi; để trang trí, là khi trò chuyện; để rèn luyện năng lực, khi phán đoán và sắp đặt công việc. Những người tài giỏi có thể xử lý, và có lẽ phán đoán những vấn đề đặc biệt, phù hợp với mỗi tình huống; với người bình thường, việc lên kế hoạch và điều hành công việc, thì tốt nhất, phải do những người có học hành đảm nhiệm. Dành quá nhiều thời gian để học là lười nhác; dành quá nhiều thời gian cho trang trí, là màu mè; phán đoán hoàn toàn dựa trên các quy tắc hàn lâm, là trò đùa giỡn của học giả. Việc học làm hoàn chỉnh bản chất, và được làm hoàn chỉnh hơn bởi kinh nghiệm: vì các năng lực tự nhiên cũng giống như cây cối trong thiên nhiên, cần được trồng tỉa, bằng học; và học đến phiên chúng lại tạo ra những hướng đi mới rộng lớn quá mức, may mắn là chúng bị giới hạn trong biên giới của kinh nghiệm. Người khôn lanh thì khinh thường học, người đơn giản thì sùng bái học, và người khôn ngoan thì sử dụng học; bởi vì việc học không dạy cách sử dụng chúng như thế nào; mà đó là trí tuệ, khi không còn học, và vượt qua việc học, đã đạt được bằng quan sát. Đọc không phải để phủ nhận và bác bỏ; cũng không phải để tin tưởng và mù quáng; cũng không phải để đàm thoại và diễn ngôn; mà để đong đo và cân nhắc. Một số sách chỉ để nếm thử, một số khác để nuốt chửng, và một số ít để nhai nhỏ và tiêu hoá; nghĩa là, một số sách chỉ cần đọc một vài phần nào đó; những cuốn khác cần đọc, nhưng không kỹ lưỡng lắm; và một số ít thì phải đọc toàn bộ, với hết lòng chuyên cần và chăm chú. Một số sách có thể được đọc bởi các người giúp việc, và những tóm tắt từ sách soạn ra bởi người nào khác; nhưng đó chỉ dành cho những thứ ít quan trọng, và cho loại sách tầm thường, nếu không thì sách được chưng cất như thế cũng giống như các loại nước được chưng cất ngoài kia, chỉ là những thứ vô vị. Đọc tạo ra một con người đầy đủ; bàn luận tạo ra một người sẵn sàng; và viết tạo ra một con người chính hiệu. Và vì thế, nếu một người viết ít, y phải có trí nhớ giỏi; nếu y ít bàn bạc, y cần sự khôn ngoan lanh lẹ; và nếu y đọc ít, thì y cần phải có rất nhiều khôn ranh, để đoán được cái gì y chưa biết. Lịch sử giúp ta thông thái; thi ca giúp ta tế nhị; toán học giúp ta tinh nhạy; vật lý giúp ta sâu sắc; đạo đức giúp ta nghiêm trang; luận lý và hùng biện giúp ta tranh biện. Abeunt studia in mores (Latin: học trở thành tính cách). Không, không có trở ngại nào của trí óc, mà không thể chữa trị bằng việc học thích ứng; y hệt như những bệnh tật của thể xác có thể chữa lành bằng những hoạt động thích hợp. Bowling giúp cho tinh hoàn và thận; bắn cung cho phổi và ngực; bách bộ cho dạ dày; cưỡi ngựa cho đầu; và tương tự thế. Vì thế nếu tâm trí một ai đó cứ lan man, hãy để y học toán; vì khi phải làm toán, nếu tâm trí cứ thường xuyên chạy tán loạn, thì y phải trở lại từ đầu. Nếu tâm trí y không biết phân biệt hoặc tìm ra những khác biệt, hãy để y học các học giả về Trung cổ; vì họ có thể chẻ sợi tóc làm tư. Nếu y không biết tranh biện, và không biết dùng điều này để chứng minh và làm sáng tỏ một điều khác, hãy để y học 197 vụ kiện tụng của các luật sư. Vì thế mỗi khiếm khuyết của trí óc đều có một công thức chữa trị đặc biệt.

Books

IMG_3920


Books

Phat Vo

May 23, 2016

This article was published in the E-zine http://damau.org/archives/42647

October last year (2015) my sister and her family came over from Vietnam to visit my father in Little Saigon, California. We visited many places and took many pictures, but one picture has been my favorite of the whole visit. It had poor lighting, strange composition, crooked angle, all the signs of an amateur photographer with an iPhone 4S. There after a long day walking around the Museums and Gardens of the Huntington Library, exhausted, we headed out and on the way stopped by the real Library which housed all the precious manuscripts and books. Somehow my father and my niece happened to read together the information at the display of the first printed book of Western Civilization, the Gutenberg Bible. Asking them to turn around for a pose, I took the picture very quick without thinking. Right there and then I remembered it very vividly.

I remembered that a little more than 40 years ago, myself the 5 and 1/2 year old kid was an enthusiastic book destroyer. In a storage room with all the windows closed or opened a little, I enjoyed throwing torn books and pages into a fire in the middle of the room. The kid in me was happy to play with fire without knowing what was going on.

Only a long time later when I knew enough, my parents told me of the event. After the Communist North won the war in April 1975, they ordered people to turn in books published in the South which they deemed decadent, depraved and anti-revolutionary, to be destroyed. My father – who as a kid in his small village witnessed the Communist Land Reform in the early 1950s, in which the poor farmers were directed by the soldiers to torture old rich farmers – knew not to trust the communists. Afraid that the communists would record our books for later punishment, he decided to burn most of the books in our small library. To hide from the potentially nosy neighbors, we closed or opened slightly most windows during the reluctant book burning ritual. Hundreds of books were burned in a few days.

Growing up and studying totally under the communist rule, I soon forgot all about that incident. That tragedy of ours was insignificant compared to the loss of lives and properties of countless others. I was pretty happy despite all the hardship our family endured during the communist mismanagement of the country. As I got older, I vaguely realized something was wrong during those years. A teacher of mine and a close friend of our parents whom I loved and respected so much escaped by boat without saying goodbye to me. Some of our parents’ friends came over and talked about their shame of teaching kids the lies in textbooks. Some others from the South Vietnam Army after being “re-educated” came and wished they had fought harder. Relatives and neighbors died because of a shortage of medicines or medical staff’s carelessness. Wars after wars. Endless news of enemies trying to destroy our countries. Those terrible years of not having enough to eat, of mistrust between neighbors and friends, of listening to lies through propaganda in all forms of media, of living lives of fear under constant watch of local policemen. There I read most of the remaining books in our library. Valuable books were hard to find, but our parents managed to buy good books, even some banned books, and encouraged us to read and to learn the truth through them. The book burning images came back a little, and I sometimes wondered if I was reading books which were burned in that closed room years ago.

Then I came to America. I saw in a small American city a library bigger than the Vietnam National Library in Saigon, and was astonished to be able to get the library card within a few minutes and was able to borrow tons of books right there.

That experience of book burning and book scarcity in Vietnam during my young years probably explains my crazy love of books in physical form. I could go for hours in libraries or old bookstores admiring books hundreds of years old. In San Francisco museums or in Boston old bookstores, I was attracted to old books or old manuscripts on display and longed to touch them in order to feel the wisdom of old age on those pages. More than once I could not resist the urge to buy an old copy of a favorite book of mine, so I could read, reread, feel the pages, and enjoy the illustrations, like a small child. A few copies of Candide. A few copies of The Book of Tea.

In school and at work occasionally I had to argue with people who still considered Ho Chi Minh a just and enlightened leader of Vietnam. Many times my English was not good enough to defend my points, I found myself repeating the indictment just like a kid, “but he was a mass murderer.” Maybe now I would add, “he was also a mass book destroyer?”

Back to the picture, there stood a grandpa who burned his beloved books 40 years ago, next to a granddaughter who first came to a country which treasured books, next to a first printed book copy of the West. The picture draws tears sometimes when I look at it.

I know I am forever an enemy of those thugs who burn books! No matter how small or hopeless my effort is.

Sách
Võ Tấn Phát

Đã đăng ở da màu http://damau.org/archives/42647

Tháng 10 năm ngoái (2015) em gái tôi và gia đình từ Việt Nam qua thăm ba tôi ở Little Saigon, California. Cả gia đình đã đi nhiều nơi và chụp nhiều hình. Nhưng có một tấm hình tôi thích nhất. Thiếu ánh sáng, thiếu bố cục, ảnh bị nghiêng, nó mang đầy dấu ấn của một tay thợ chụp hình nghiệp dư dùng iPhone 4S cũ kỹ. Sau một ngày dài đi bộ hết Bảo tàng này sang Khu vườn nọ của Huntington Library, và quá mệt mỏi, chúng tôi ra về, và trên đường đi ra cổng đã dừng lại ở Thư Viện chứa đầy những cuốn sách và bản thảo quý giá. Tình cờ ba tôi và cháu gái cùng đứng trước hộp triển lãm chứa cuốn sách in đầu tiên của văn minh Tây phương, cuốn Kinh Thánh Gutenberg. Khi cả hai quay ra ngoài làm mẫu, tôi đã chụp rất nhanh không suy nghĩ. Ngay lúc đó hình ảnh quá khứ hiện ra rõ mồn một.

Tôi nhớ lại hơn 40 năm trước, tôi cái thằng bé năm tuổi rưỡi là một kẻ đốt sách nhiệt thành. Trong căn phòng kín cửa, tôi đã khoái trá quăng những cuốn sách và những trang sách bị xé dở vào đống lửa giữa nhà. Thằng bé trong tôi sung sướng chơi trò đốt lửa, không hề biết chuyện gì xung quanh.

Rất lâu về sau khi tôi đã khôn lớn, ba má tôi mới kể về vụ đốt sách đó. Khi Cộng Sản Bắc Việt chiến thắng vào tháng 4 năm 1975, họ đã ra lệnh mọi người phải nộp để đem hủy những cuốn sách xuất bản ở miền Nam bị coi là đồi truỵ và phản cách mạng. Ba tôi – khi còn nhỏ đã chứng kiến cảnh Cải Cách Ruộng Đất trong làng, đã nhìn thấy những người nông dân vốn hiền lành bị ép phải hành hạ những ông phú nông già nua – không tin người Cộng Sản chút nào. Lo sợ Cộng Sản sẽ ghi lại tên sách để tính sổ sau này, ông đã quyết định đốt gần hết sách trong cái thư viện nhỏ của gia đình. Để phòng ngừa những người hàng xóm tọc mạch, ba má tôi đã đóng kín hoặc chỉ hé các cửa phòng lúc đốt sách. Hàng trăm cuốn sách đã bị đốt trong vài ngày.

Lớn lên và được học hành hoàn toàn dưới chế độ cộng sản, tôi nhanh chóng quên đi vụ đốt sách. Thảm kịch đó vô cùng bé nhỏ so với những tổn thất nhân mạng và tài sản của vô số người khác. Tôi khá vui vẻ mặc cho những khó khăn gia đình tôi phải chịu dưới sự quản lý đất nước yếu kém của cộng sản. Nhưng khi lớn hơn một chút, tôi lờ mờ nhận ra có gì đó không ổn. Một thầy giáo tôi rất quý trọng và cũng là bạn thân của gia đình đã vượt biên bằng thuyền một cách bí mật không nói với tôi gì cả. Một vài người bạn của gia đình đến và kể về nỗi xấu hổ phải dạy con nít những dối trá trong sách giáo khoa. Những người bạn trong quân đội Miền Nam đi cải tạo về đến thăm và ước gì họ đánh lì hơn chút nữa. Những người thân chết vì thiếu thuốc hay cẩu thả của ngành y. Rồi chiến tranh tiếp nối chiến tranh. Những tin tức không ngừng về những kẻ thù cứ muốn tàn phá đất nước tôi. Những năm không đủ ăn, nghi kỵ giữa hàng xóm và bạn bè với nhau, thường xuyên bị dội những tuyên truyền dối trá đủ mọi hình thức, sống trong lo sợ dưới sự dò xét thường trực của cảnh sát phường xóm. Hồi đó tôi đã đọc hầu hết những cuốn sách còn lại trong thư viện gia đình. Sách có giá trị khó tìm, nhưng ba má vẫn gắng mua sách, gồm cả sách cấm, và khuyến khích chúng tôi đọc và tìm hiểu sự thật qua sách. Những hình ảnh đốt sách trở về, và đôi khi tôi tự hỏi cuốn sách nào mình đang đọc là cuốn đã bị đốt trong phòng kín nhiều năm trước.

Rồi tôi được tới Mỹ. Tôi nhìn thấy cái thư viện của một thành phố nhỏ của Mỹ còn lớn hơn cả Thư Viện Quốc Gia ở Sài Gòn, và tôi kinh ngạc thấy mình có thể làm thẻ thư viện trong vài phút và mượn được hàng tấn sách ngay lúc đó.

Kinh qua vụ đốt sách và thời kỳ khan hiếm sách lúc trẻ có lẽ đã làm tôi mê sách điên cuồng. Tôi có khi đi dạo hàng giờ trong những thư viện hay tiệm sách cũ ngắm nhìn những cuốn sách hàng trăm năm. Trong những bảo tàng ở San Francisco hay tiệm sách cũ ở Boston tôi bị hút hồn vào những cuốn sách hay bản thảo cổ và thèm được chạm vào chúng để thấu được cái minh triết cổ xưa trên những trang sách đó. Nhiều lần tôi không thể cưỡng lại cám dỗ phải mua một bản in cũ của cuốn sách tôi yêu thích, để được đọc đi đọc lại, chạm vào những trang sách, và thưởng thức những bức tranh minh hoạ, như một đứa trẻ con. Vài bản in Candide. Vài bản Trà Thư.

Lúc còn đi học hay đi làm sau này đôi khi tôi phải tranh cãi với những người vẫn còn cho Hồ Chí Minh là một lãnh tụ anh minh chính nghĩa của Việt Nam. Nhiều khi tiếng Anh của tôi không đủ để tranh luận, tôi thấy mình cứ lập lại những lời kết tội như con nít: “nhưng mà ông ta là tên sát nhân hàng loạt mà”. Có lẽ giờ đây tôi nên thêm vào lời kết tội: “ông ta cũng là tên đốt sách hàng loạt nữa”.

Trong tấm hình, ông ngoại – người đã đốt những cuốn sách quý giá 40 năm trước – đứng cạnh đứa cháu lần đầu tiên đến một đất nước trân quý sách, bên cuốn sách in đầu tiên của phương Tây. Nhìn tấm hình đó đôi khi tôi thấy muốn rớt nước mắt.

Tôi biết mình sẽ mãi là kẻ thù của tụi đốt sách! Dù cho những nỗ lực của tôi có nhỏ bé vô vọng thế nào đi nữa.