In Praise of Shadows — Junichiro Tanizaki

Japanese Room
Japanese Room
(From In Praise of Shadows)

Junichiro Tanizaki

A Japanese room might be likened to an inkwash painting, the paper-paneled shoji being the expanse where the ink is thinnest, and the alcove where it is the darkest. Whenever I see the alcove of a tastefully built Japanese room, I marvel at our comprehension of the secrets of shadows, our sensitive use of shadow and light. For the beauty of the alcove is not the work of some clever device. An empty space is marked off with plain wood and plain walls, so that the light drawn into its forms dim shadows within emptiness. There is nothing more. And yet, when we gaze into the darkness that gathers behind the crossbeam, around the flower vase, beneath the shelves, though we know perfectly well it is mere shadow, we are overcome with the feeling that in this small corner of the atmosphere there reigns complete and utter silence; that here in the darkness immutable tranquility holds sway. The “mysterious Orient” of which Westerners speak probably refers to the uncanny silence of these dark places. And even we as children would feel an inexpressible chill as we peered into the depths of an alcove to which the sunlight had never penetrated. Where lies the key to this mystery? Ultimately it is the magic of shadows. Were the shadows to be banished from its corners, the alcove would in that instant revert to mere void.

This was the genius of our ancestors, that by cutting off the light from this empty space they imparted to the world of shadows that formed there a quality of mystery and depth superior to that of any wall painting or ornament. The technique seems simple, but was by no means so simply achieved. We can imagine with little difficulty what extraordinary pains were taken with each invisible detail—the placement of the window in the shelving recess, the depth of the crossbeam, the height of the threshold. But for me the most exquisite touch is the pale white glow of the shoji in the sturdy bay; I need only pause before it and I forget the passage of time.

The study bay, as the name suggests, was originally a projecting window built to provide a place for reading. Over the years it came to be regarded as no more than a source of light for the alcove; but most often it serves not so much to illuminate the alcove as to soften the sidelong rays from without, to filter them through paper panels. There is a cold and desolate tinge to the light by the time it reaches these panels. The little sunlight from the garden that manages to make its way beneath the eaves and through the corridors has by then lost its power to illuminate, seems drained of the complexion of life. It can do no more than accentuate the whiteness of the paper. I sometimes linger before these panels and study the surface of the paper, bright, but giving no impression of brilliance.

In temple architecture the main room stands at a considerable distance from the garden; so dilute is the light there that no matter what the season, on fair days or cloudy, morning, midday, or evening, the pale, white glow scarcely varies. And the shadows at the interstices of the ribs seem strangely immobile, as if dust collected in the corners had become a part of the paper itself. I blink in uncertainty at this dreamlike luminescence, feeling as though some misty film were blunting my vision. The light from the pale white paper, powerless to dispel the heavy darkness of the alcove, is instead repelled by the darkness, creating a world of confusion where dark and light are indistinguishable. Have not you yourselves sensed a difference in the light that suffuses such a room, a rare tranquility not found in ordinary light? Have you never felt a sort of fear in the face of the ageless, a fear that in that room you might lose all consciousness of the passage of time, that untold years might pass and upon emerging you should find you had grown old and gray?

Source: http://pdf-objects.com/files/In-Praise-of-Shadows-Junichiro-Tanizaki.pdf

Japanese Study Bay
Japanese Study Bay


Phòng khách kiểu Nhật
(Trích Ca Ngợi Bóng Âm)

Junichiro Tanizaki
Hà Vũ Trọng dịch

Một căn phòng khách (zashiki) kiểu Nhật có thể ví như một bức tranh thuỷ mặc, cửa giấy kéo (shoji) là chỗ mực nhạt nhất, còn gian bích khám (tokonoma) là chỗ mực đậm nhất. Mỗi lần nhìn thấy cái bích khám rất trang nhã trong căn phòng Nhật, tôi cảm phục cách người Nhật thấu hiểu được sự bí ẩn của bóng âm và cách họ sử dụng bóng âm và ánh sáng một cách nhạy cảm. Vì vẻ đẹp của bích khám không phải là công việc của thiết bị thông minh nào đó. Một không gian trống và lõm được bao lại bằng gỗ thô và vách tường mộc mạc để cho ánh sáng hút vào tạo nên những cái bóng mờ mờ bên trong khoảng không. Không còn gì nữa. Thế nhưng, khi nhìn vào bóng tối trầm tụ sau xà ngang, quanh bình hoa, dưới cái giá, dù chúng ta biết rõ đấy chỉ là những cái bóng, nhưng cảm giác khuất phục trong cái góc nhỏ này một bầu không khí ngự trị, một sự trầm mặc hoàn toàn; ở đây trong cái bóng tối là sự tĩnh tại bất biến đang thống trị. “Phương Đông huyền bí” là cách gọi của người phương Tây có lẽ để ám chỉ sự tịch mịch của những nơi u tối này. Và ngay cả chúng ta thuở bé cũng từng cảm thấy ớn lạnh khó tả khi nhìn vào những chiều sâu của cái khám mà ánh mặt trời chẳng bao giờ rọi tới. Chìa khoá của sự huyền bí này nằm ở đâu? Rút cuộc đó chính là phép thuật của bóng âm. Nếu như những bóng âm này bị xua ra khỏi mọi ngóc ngách thì gian bích khám này lập tức trở lại thành khoảng trống đơn thuần.

Thiên tài của tổ tiên chúng ta ở chỗ, qua việc cắt đứt ánh sáng ra khỏi cái không gian trống này họ đã truyền đó vào một thế giới của những bóng âm mang phong vị bí ẩn và chiều sâu vượt trội so với bất kì bức tranh tường hoặc sự trang trí nào. Đây có vẻ là một kĩ xảo giản dị nhưng không dễ dàng đạt tới. Chúng ta không khó hình dung ra những lao tâm khổ tứ với từng chi tiết vô hình, như việc lắp đặt song cửa trong hốc khám, chiều sâu của rầm ngang, độ cao của ngưỡng. Tuy nhiên đối với tôi, vẻ tinh tế nhất lại là vầng sáng trắng nhạt của bình phong giấy ở gian thư hiên (shoin) mà tôi chỉ việc dừng lại trước nó và rồi quên đi dòng thời gian trôi qua.

Thư hiên, như tên gọi, nguyên là một song cửa được xây nhô ra dành làm chỗ đọc sách. Tuy qua nhiều năm nó được coi là nguồn sáng dành cho gian bích khám, nhưng nó cũng lại thường xuyên giúp làm dịu và lọc những tia nắng chiếu xiên từ bên ngoài qua lớp bình phong giấy hơn là để thắp sáng bích khám. Ánh sáng khi chạm tới những tấm bình phong này thì đượm vẻ lạnh lẽo và hoang vắng. Một chút nắng từ ngoài vườn tìm cách len vào dưới mái hiên và xuyên qua hành lang nhưng rồi mất đi độ sáng và gần như kiệt quệ sức sống và chỉ làm nổi thêm màu trắng bệch của giấy. Đôi khi tôi nấn ná trước những bình phong này để ý xem bề mặt của giấy và có ấn tượng nó sáng chứ không chói.

Trong kiến trúc chùa, gian đại sảnh cách khu vườn một khoảng cách đáng kể; ánh sáng ở đó thật mờ nhạt bất kể mùa nào, vào ngày đẹp trời hay u ám, sáng, trưa, hay chiều tối, thứ ánh sáng mờ nhạt ấy hầu như không thay đổi. Và bóng râm trên những gờ bình phong có vẻ bất động kì lạ, như thể bụi bậm ở các góc đã trở thành một phần của giấy. Tôi chớp mắt mà không dám chắc ánh phát quang như mộng huyễn này, cảm thấy như một lớp sương bạc làm mờ thị giác. Ánh sáng từ giấy trắng mờ không đủ sức xua tan bóng tối dày của gian bích khám, thay vào đó lại bị bóng tối đẩy lùi, tạo nên một thế giới mông lung, nơi mà sáng tối không thể phân biệt được. Bạn có cảm nhận được sự khác biệt của thứ ánh sáng khuếch tán trong gian phòng ấy một sự thanh tịnh hiếm hoi không thể tìm thấy trong thứ ánh sáng bình thường không? Bạn đã có bao giờ cảm giác giống như sợ hãi khi đối mặt với sự vĩnh cửu, nỗi sợ rằng trong căn phòng đó bạn có thể mất hết ý thức về dòng thời gian trôi qua, những năm tháng không kể xiết trôi qua, để rồi khi bước ra ngoài bạn thấy mình đã già nua tóc bạc?

Nguyên tác: 陰翳礼讃 (In’ei reisan/Âm ế lễ tán), tuỳ bút, 1933-4. Tác giả: Jun’ichiro Tanizaki 潤一郎 谷崎 (1886-1965).

Nguồn: https://havutrongarchives.blogspot.com/2021/02/ca-ngoi-bong-am-tuy-but-mi-hoc-ve-van.html?m=1

In Praise of Shadows

“One, Two, Three” by Ryokan — Kazuaki Tanahashi

[一二三] ONE, TWO, THREE by Ryokan
[一二三] ONE, TWO, THREE by Ryokan

“One, Two, Three” by Ryokan
Kazuaki Tanahashi

A peasant farmer once said to Ryokan, “Your writings are difficult to read. Can you write something even I can read?” Ryokan wrote “One, two, three,” and said, “I hope you can read this.”

Generally, one is represented by a single horizontal line, while two and three are depicted with two and three horizontal lines. Indeed, there are no easier symbols than these in East Asian ideography. The villager who was given this calligraphy might have thought this was Ryokan’s nonsense or joke. But in the Zen tradition, numbers sometimes indicate reality itself: words beyond words.

When the ideographic writing system was created in China about four thousand years ago, these numbers were drawn on soil or carved on wood or animal bones with straight geometric lines. After the brush was invented about two thousand years later, calligraphers developed the aesthetics of asymmetry within each stroke and among elements of each ideograph. This piece by Ryokan, written in a semicursive script, follows this tradition.

The first horizontal line goes up, which is common in Chinese-style calligraphy, but with atypical steepness. Following the initial press down, the brush was gradually pulled up, making its trace finer. It arched gracefully, then slightly pushed down to create a consistent width on its latter half. At the end of the line, the brush was lightly pressed down and swept off toward the next symbol.

In two, the line above is typically shorter than the line below. But in this case, the line above is excessively short—almost a dot—subtly curving up and sweeping off again. The second stroke starts pointed, forming a circular line followed by a most subtle curving-down line.

The first two strokes of three are two diagonal lines of different angles connected with a ligature. Preceded by an invisible ligature, the last line of this character is straight. On the final column he wrote: “Shaku Ryokan sho” (Written by monk Ryokan).

There is ample space between lines and characters. Ryokan created a style of calligraphy where even extra thin lines with few strokes can hold a large amount of space.

Source: Kazuaki Tanahashi, Sky Above, Great Wind

Picture and text source: https://terebess.hu/zen/mesterek/Ryokan.html

Thư pháp “Nhất, Nhị, Tam” của Ryokan
Kazuaki Tanahashi
Võ Tấn Phát dịch

Có lần một nông dân nói với Ryokan: “Chữ viết của ngài khó đọc quá. Ngài có thể viết cái gì để tôi có thể đọc được không?” Ryokan viết “Nhất, nhị, tam” rồi nói: “Tôi nghĩ ông có thể đọc được cái này”.

Nói chung, chữ nhất được viết bằng một nét ngang, còn nhị và tam bằng hai và ba nét ngang. Và như vậy, không có chữ nào dễ hơn các chữ này trong hệ thống chữ tượng hình Đông Á. Người dân làng nhận được bức thư pháp này có lẽ nghĩ rằng Ryokan nói nhăng nói cuội hay chỉ đùa giỡn. Nhưng theo truyền thống Thiền, con số đôi khi lại biểu thị chính thực tại: chữ bên ngoài chữ.

Khi hệ thống chữ tượng hình được sáng tạo ở Trung Hoa vào bốn ngàn năm trước, những con số này được vẽ xuống đất hay khắc lên gỗ hay xương động vật với những đường thẳng. Sau khi bút lông được chế ra hai ngàn năm sau đó, các nhà thư pháp đã phát triển thứ mỹ học của bất cân xứng trong mỗi nét bút cũng như trong các nét bút của một chữ. Bức thư pháp này của Ryokan, viết bằng lối hành thư, là theo truyền thống này.

Nét ngang đầu tiên đưa lên, như thường lệ trong thư pháp Trung Hoa, nhưng với một độ chếch không điển hình. Khởi đầu bút ấn xuống, theo đó bút được kéo lên, làm nét bút nhỏ đi. Nét bút cong thanh nhã, rồi được ấn nhẹ xuống để nét bút mảnh đều ở phần sau. Ở cuối nét chữ, bút được nhấn nhẹ xuống rồi quét nhanh sang chữ tiếp theo.

Ở chữ nhị, nét bút phía trên thường ngắn hơn nét dưới. Nhưng ở đây, nét trên lại cực ngắn—gần như một chấm—cong nhẹ lên rồi quét xuống lại. Nét thứ hai bắt đầu bằng nét bút nhọn, rồi vẽ thành một vòng cung, rồi cong nhẹ xuống.

Hai nét đầu tiên của chữ tam là hai nét ngang với góc nghiêng khác nhau nối nhau. Bắt đầu bằng một nét nối ẩn, nét cuối của chữ tam là một đường thẳng. Ở hàng cuối ông viết “Tăng Ryokan Thư” (Chữ viết của sư Lương Khoan).

Có nhiều khoảng cách giữa các chữ viết và giữa các nét trong một chữ. Ryokan sáng tạo ra lối thư pháp mà chỉ bằng vài đường mỏng với ít nét thôi cũng chứa đựng được một khoảng không rộng mở.

2D61E7A7-03E6-44C9-8D16-5AC4FA446EB4

The Tragedy of Central Europe — Milan Kundera

President Zelensky
President Zelensky of Ukraine: “Look, we are here dying for European ideals.”

Milan Kundera


The Tragedy of Central Europe

Milan Kundera
Translated from the French by Edmund White

In November 1956, the director of the Hungarian News Agency, shortly before his office was flattened by artillery fire, sent a telex to the entire world with a desperate message announcing that the Russian attack against Budapest had begun. The dispatch ended with these words: “We are going to die for Hungary and for Europe.”

What did this sentence mean? It certainly meant that the Russian tanks were endangering Hungary and with it Europe itself. But in what sense was Europe in danger? Were the Russian tanks about to push past the Hungarian borders and into the West? No. The director of the Hungarian News Agency meant that the Russians, in attacking Hungary, were attacking Europe itself. He was ready to die so that Hungary might remain Hungary and European.

Even if the sense of the sentence seems clear, it continues to intrigue us. Actually, in France, in America, one is accustomed to thinking that what was at stake during the invasion was neither Hungary nor Europe but a political regime. One would never have said that Hungary as such had been threatened; still less would one ever understand why a Hungarian, faced with his own death, addressed Europe. When Solzhenitsyn denounces communist oppression, does he invoke Europe as a fundamental value worth dying for?

No. “To die for one’s country and for Europe”—that is a phrase that could not be thought in Moscow or Leningrad; it is precisely the phrase that could be thought in Budapest or Warsaw.

Source: http://www.kx.hu/kepek/ises/anyagok/Kundera_tragedy_of_Central_Europe.pdf

Tổng thống Zelensky của Ukraine nói: “Chúng tôi đang sống chết cho những lý tưởng của châu Âu”.

Một phương Tây bị bắt cóc, hay bi kịch của Trung Âu
Milan Kundera
Chiêu Dương dịch

Tháng 11 năm 1956, Giám đốc Thông tấn xã Hungary, mấy phút trước khi văn phòng của ông bị san phẳng bởi hỏa lực pháo binh, đã gửi một bức điện tới toàn thế giới với một thông điệp đầy tuyệt vọng, thông báo rằng Nga đã bắt đầu tấn công vào Budapest. Bức điện kết thúc với câu: “Chúng tôi sẽ chết cho Hungary và cho châu Âu.”

Câu nói này có nghĩa là gì? Chắc chắn nó nghĩa là những chiếc xe tăng của Nga đang đe dọa Hungary, và bằng cách đó, đe dọa chính châu Âu. Nhưng châu Âu bị đe dọa theo nghĩa nào? Những chiếc xe tăng của Nga sẽ vượt qua biên giới của Hungary tiến về phía Tây? Không. Vị giám đốc Thông tấn xã Hungary muốn nói rằng, nước Nga, khi tấn công Hungary, cũng chính là đang tấn công châu Âu. Ông ấy sẵn sàng chết để Hungary vẫn là Hungary và vẫn thuộc về châu Âu.

Dù ý nghĩa của câu nói này có vẻ đã quá rõ ràng, nó vẫn còn khơi gợi nhiều điều khiến chúng ta suy ngẫm. Thực ra, ở đây – nước Pháp, hay ở Mỹ, người ta quen nghĩ rằng thứ bị đe dọa trong cuộc tấn công đó chẳng phải Hungary hay châu Âu, mà là một thể chế chính trị. Người ta sẽ không bao giờ nói rằng Hungary với tư cách quốc gia bị đe dọa, huống hồ là hiểu được tại sao một người Hungary, đang đối mặt với cái chết của chính mình, lại đi kêu lên với châu Âu. Khi Solzhenitsyn lên án sự áp bức của chủ nghĩa cộng sản, ông có gợi đến châu Âu như một giá trị nền tảng, xứng đáng hy sinh thân mình để bảo vệ nó?

Không hề, “chết cho tổ quốc tôi và cho châu Âu” là câu nói mà không ai ở Moskva hay Leningrad có thể nghĩ tới, nhưng nó chính xác sẽ là câu mà người Budapest hay Warszawa nghĩ.

Nguồn: https://zzzreview.com/2019/07/31/mot-phuong-tay-bi-bat-coc-hay-bi-kich-cua-trung-au

The Importance of Books

Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole
Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole


The Importance of Books

Around 130 million books have been published in the history of humanity; a heavy reader will at best get through 6,000 in a lifetime. Most of them won’t be much fun or very memorable. Books are like people; we meet many but fall in love very seldom. Perhaps only thirty books will ever truly mark us. They will be different for each of us, but the way in which they affect us will be similar.

The core – and perhaps unexpected – thing that books do for us is simplify. It sounds odd, because we think of literature as sophisticated. But there are powerful ways in which books organise, and clarify our concerns – and in this sense simplify.

Centrally, by telling a story a book is radically simpler than lived experience. The writer omits a huge amount that could have been added in (and in life always – by necessity – is there). In the plot, we move from one important moment directly to the next – whereas in life there are endless sub-plots that distract and confuse us. In a story, the key events of a marriage unfold across a few dozen pages: in life they are spread over many years and interleaved with hundreds of business meetings, holidays, hours spent watching television, chats with one’s parents, shopping trips and dentist’s appointments. The compressed logic of a plot corrects the chaos of existence: the links between events can be made much more obvious. We understand – finally – what is going on.

Writers often do a lot of explaining along the way. They frequently shed light on why a character is acting as they do; they reveal people’s secret thoughts and motives. The characters are much more clearly defined than the people we actually encounter. On the page, we meet purer villains, braver more resourceful heroes, people whose suffering is more obvious or whose virtues are more striking than would ever normally be the case. They – and their actions – provide us with simplified targets for our emotional lives. We can love or revile them, pity them or condemn them more neatly than we ever can our friends and acquaintances.

We need simplification because our minds get checkmated by the complexity of our lives. The writer, on rare but hugely significant occasions, puts into words feelings that had long eluded us, they know us better than we know ourselves. They seem to be narrating our own stories, but with a clarity we could never achieve.

Literature corrects our native inarticulacy. So often we feel lost for words; we’re impressed by the sight of a bird wheeling in the dusk sky; we’re aware of a particular atmosphere at dawn, we love someone’s slightly wild but sympathetic manner. We struggle to verbalise our feelings; we may end up remarking: ‘that’s so nice’. Our feelings seem too complex, subtle, vague and elusive for us to be able to spell out. The ideal writer homes in on a few striking things: the angle of the wing; the slow movement of the largest branch of a tree; the angle of the mouth in a smile. Simplification doesn’t betray the nuance of life, it renders life more visible.

The great writers build bridges to people we might otherwise have dismissed as unfeasibly strange or unsympathetic. They cut through to the common core of experience. By selection and emphasis, they reveal the important things we share. They show us where to look.

They help us to feel. Often we want to be good, we want to care, we want to feel warmly and tenderly – but can’t. It seems there is no suitable receptacle in our ordinary lives into which our emotions can vent themselves. Our relationships are too compromised and fraught. It can feel too risky to be very nice to someone who might not reciprocate. So we don’t do much feeling; we freeze over. But then – in the pages of a story – we meet someone, perhaps she is very beautiful, tender, sensitive, young and dying; and we weep for her and all the cruelty and injustice of the world. And we come away, not devastated, but refreshed. Our emotional muscles are exercised and their strength rendered newly available for our lives.

Not all books necessarily contain the simplifications we happen to need. We are often not in the right place to make use of the knowledge a book has to offer. The task of linking the right book to the right person at the right time hasn’t yet received the attention it deserves: newspapers and friends recommend books to us because they work for them, without quite thinking through why they might also work for us. But when we happen to come across the ideal book for us we are presented with an extraordinarily clearer, more lucid, better organised account of our own concerns and experiences: for a time at least our minds become less clouded and our hearts become more accurately sensitive. Through books’ benign simplification, we become a little better at being who we always really were.

Source: https://www.theschooloflife.com/thebookoflife/the-importance-of-books/

Suiseki: Lady Murasaki; Eel River stone; collected by Mas Nakajima 2015; walnut daiza 2015.  In the permanent collection of the Oakland Museum of California. Photo by Lisa Vole

Source: https://suisekiart.com/2017/01/02/lady-murasaki/

From Wikipedia:
Murasaki Shikibu (紫 式部, English: “Lady Murasaki”; c. 973 or 978 – c. 1014 or 1031) was a Japanese novelist, poet and lady-in-waiting at the Imperial court in the Heian period. She is best known as the author of The Tale of Genji, widely considered to be one of the world’s first novels, written in Japanese between about 1000 and 1012.

Tosa Mitsuoki illustration of Lady Murasaki writing.  c. late 17th C.
Tosa Mitsuoki illustration of Lady Murasaki writing. c. late 17th C.

Tầm quan trọng của sách
Võ Tấn Phát dịch

Khoảng 130 triệu đầu sách được xuất bản trong lịch sử nhân loại; một độc giả chuyên cần nhất cùng lắm chỉ có thể đọc khoảng 6000 cuốn trong đời. Phần lớn sách không thú vị hay đáng nhớ lắm. Sách cũng như người; ta gặp nhiều nhưng hiếm khi phải lòng ai. Có lẽ chỉ khoảng 30 cuốn sách thực sự ghi dấu ấn lên ta. Chúng sẽ khác nhau cho mỗi người, nhưng cái cách chúng ảnh hưởng lên chúng ta thì giống nhau.

Điều cốt lõi — và có lẽ không ngờ — mà sách đã làm cho ta là đơn giản hoá. Nghe thì kỳ quặc, vì ta nghĩ văn chương vốn phức tạp. Nhưng có những phương cách mà sách hệ thống lại, và làm rõ ràng hơn những điều ta quan tâm — và ở ý nghĩa này sách đơn giản hoá.

Điều chính yếu là, bằng cách kể một câu chuyện, một cuốn sách đã đơn giản hơn rất nhiều so với kinh nghiệm sống. Nhà văn đã bỏ đi một số lượng lớn những thứ có thể thêm vào (và trong đời thực — thì cần thiết — phải hiện diện ở đó). Trong cốt truyện, ta nhảy từ một khoảnh khắc quan trọng này sang khoảnh khắc kế tiếp — trong khi ngoài đời thì vô tận những phân đoạn của câu chuyện đó sẽ làm ta mất tập trung và rối trí. Trong một câu chuyện, những sự kiện quan trọng của một cuộc hôn nhân hiển lộ qua vài chục trang giấy: trong đời thực thì nó sẽ trải qua nhiều năm trời và đan xen với hàng trăm cuộc họp hành, những ngày lễ lạc, hàng giờ liền coi truyền hình, những lần trò chuyện với cha mẹ, mua sắm, và đến gặp nha sĩ. Cái trình tự hợp lý đơn giản hoá đó của cốt chuyện sẽ điều chỉnh lại sự hỗn loạn của đời sống: các mối liên hệ giữa các sự kiện trở nên rõ ràng hơn. Cuối cùng ta hiểu được điều gì đang diễn ra.

Nhà văn thường giải thích rất nhiều theo mạch chuyện. Họ thường làm sáng tỏ lý do tại sao một nhân vật lại hành động như vậy; họ bóc trần những suy nghĩ và những động cơ bí mật của con người. Những nhân vật trong sách như vậy được xác lập rõ ràng hơn nhiều so với những người mà ta thực sư gặp gỡ. Trên trang sách, ta gặp những kẻ thuần ác, những anh hùng dũng cảm hơn và tháo vát hơn, những con người mà đau khổ thì hiển nhiên hơn và đức hạnh thì nổi bật hơn so với trong đời thường. Họ — cùng với những hành động của họ — là những mục tiêu được đơn giản hoá cho đời sống tình cảm của ta hướng tới. Ta có thể yêu hay ghét, thương hại hay lên án họ dễ dàng hơn là làm thế với bạn bè hay người quen.

Ta cần đơn giản hoá bởi vì trí óc ta bị kiểm soát bởi rối rắm của cuộc đời. Nhà văn, trong những dịp hiếm hoi nhưng cực kỳ quan trọng, viết ra những cảm xúc lâu nay cứ lẩn tránh khỏi trí óc ta; các nhà văn đó biết rõ về ta hơn ta biết về chính mình. Họ dường như đang kể chuyện đời ta, nhưng với sự sáng sủa ta không thể nào đạt được.

Văn chương điều chỉnh lại sự thiếu khả năng diễn đạt tự bẩm sinh của ta. Rất nhiều khi ta cảm thấy không đủ chữ; ta có ấn tượng mạnh khi thấy chim bay lượn trên nền trời hoàng hôn; ta cảm được bầu không khí đặc biệt lúc bình minh; ta yêu mến phong thái hơi hoang dã nhưng đầy cảm thông của ai đó. Nhưng chúng ta rất khó khăn khi muốn diễn đạt những cảm xúc đó; rồi cuối cùng chỉ có thể nói: ‘tuyệt quá’. Cảm xúc của ta dường như quá phức tạp, quá vi tế, quá mơ hồ, và khó nắm bắt nên ta không thể diễn đạt thành lời. Một nhà văn lý tưởng sẽ tập trung vào những đặc điểm nổi bật: độ nghiêng của đôi cánh; chuyển động chậm chạp của cành cây lớn nhất; khoé miệng cười. Đơn giản hoá không hẳn phản bội cái sắc thái muôn vẻ của đời sống, mà nó làm đời sống rõ ràng hơn.

Những nhà văn vĩ đại xây những cây cầu tới những con người mà ta dễ bỏ qua như những kẻ kỳ cục hay khó thương. Họ cắt ngang qua cái cốt lõi kinh nghiệm chung của nhân loại. Bằng cách lựa chọn và nhấn mạnh, họ bóc trần ra những điều quan trọng chúng ta đều sở hữu. Họ cho ta biết phải nhìn vào đâu.

Họ giúp ta cảm nhận. Thường thì ta muốn là người thiện, ta muốn quan tâm tới tha nhân, ta muốn cảm thấy ấm áp và dịu dàng — nhưng ta không thể. Dường như không có những bầu chứa thích hợp trong đời sống bình thường của ta để trút hết tâm sự vào đó. Các mối quan hệ của ta thì dễ tổn thương và đầy bất trắc. Ta có thể cảm thấy quá mạo hiểm khi tỏ lòng tốt với ai đó để rồi không được đáp lại. Vì thế ta không thực hành cảm xúc; ta đóng băng. Nhưng rồi, trong những trang sách, ta gặp một ai đó, có lẽ cô rất xinh đẹp, dịu dàng, nhạy cảm, trẻ và sắp chết; và ta khóc cho cô gái và tất cả những tàn ác bất công của thế gian này. Và ta trải qua, không bị tổn hại, mà được làm mới. Những cơ bắp cảm xúc của ta được tập luyện và năng lượng cảm xúc hồi phục trong đời ta.

Không phải sách nào cũng nhất thiết chứa đựng những đơn giản hoá ta cần. Ta thường không ở đúng chỗ để tận dụng kiến thức mà một cuốn sách cung cấp. Việc liên kết một cuốn sách thích hợp cho đúng người vào đúng thời điểm vẫn chưa nhận được sự quan tâm xứng đáng: báo chí và bạn bè giới thiệu sách cho ta vì chúng hợp với họ, mà không nghĩ kỹ làm sao chúng cũng hợp với ta. Nhưng khi ta tình cờ bắt gặp một cuốn sách lý tưởng cho mình, ta được trình ra một tập hợp những quan tâm và kinh nghiệm của chính ta, cực kỳ rõ ràng, sáng sủa hơn, được hệ thống tốt hơn: ít ra vào lúc đó trí ta ít vẩn đục hơn và tim ta nhạy cảm hơn. Thông qua sự đơn giản hoá vô hại của sách, ta trở nên tốt hơn chút nữa trong khi trở thành chính con người thật của mình.

Thủy thạch: Lady Murasaki; đá sông Eel, California; đá do Mas Nakajima sưu tầm năm 2015 và làm đế bằng gỗ walnut cùng năm. Tặng phẩm cho Viện Bảo tàng Nghệ thuật Oakland ở California. Hình chụp của Trang Vo-Le.

Wikipedia:
Murasaki Shikibu (Kana: むらさきしきぶ; Kanji: 紫式部, Hán Việt: Tử Thức Bộ; 978—1019?) là biệt hiệu của một nữ văn sĩ cung đình thời Heian Nhật Bản, tác giả của cuốn tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, kiệt tác Truyện kể Genji (Nguyên Thị Vật Ngữ), được viết bằng tiếng Nhật vào khoảng năm 1000 đến 1012.

Of Studies – Francis Bacon

1CDE28B7-F1EF-49D5-880F-47A18F44A42F
Photo credit: Wikipedia

Of Studies
Francis Bacon

Studies serve for delight, for ornament, and for ability. Their chief use for delight, is in privateness and retiring; for ornament, is in discourse; and for ability, is in the judgment, and disposition of business. For expert men can execute, and perhaps judge of particulars, one by one; but the general counsels, and the plots and marshalling of affairs, come best, from those that are learned. To spend too much time in studies is sloth; to use them too much for ornament, is affectation; to make judgment wholly by their rules, is the humor of a scholar. They perfect nature, and are perfected by experience: for natural abilities are like natural plants, that need proyning, by study; and studies themselves, do give forth directions too much at large, except they be bounded in by experience. Crafty men contemn studies, simple men admire them, and wise men use them; for they teach not their own use; but that is a wisdom without them, and above them, won by observation. Read not to contradict and confute; nor to believe and take for granted; nor to find talk and discourse; but to weigh and consider. Some books are to be tasted, others to be swallowed, and some few to be chewed and digested; that is, some books are to be read only in parts; others to be read, but not curiously; and some few to be read wholly, and with diligence and attention. Some books also may be read by deputy, and extracts made of them by others; but that would be only in the less important arguments, and the meaner sort of books, else distilled books are like common distilled waters, flashy things. Reading maketh a full man; conference a ready man; and writing an exact man. And therefore, if a man write little, he had need have a great memory; if he confer little, he had need have a present wit: and if he read little, he had need have much cunning, to seem to know, that he doth not. Histories make men wise; poets witty; the mathematics subtile; natural philosophy deep; moral grave; logic and rhetoric able to contend. Abeunt studia in mores. Nay, there is no stond or impediment in the wit, but may be wrought out by fit studies; like as diseases of the body, may have appropriate exercises. Bowling is good for the stone and reins; shooting for the lungs and breast; gentle walking for the stomach; riding for the head; and the like. So if a man’s wit be wandering, let him study the mathematics; for in demonstrations, if his wit be called away never so little, he must begin again. If his wit be not apt to distinguish or find differences, let him study the Schoolmen; for they are cymini sectores. If he be not apt to beat over matters, and to call up one thing to prove and illustrate another, let him study 197 the lawyers’ cases. So every defect of the mind, may have a special receipt.

Source: http://www.authorama.com/essays-of-francis-bacon-50.html

Học
Francis Bacon
Võ Tấn Phát dịch

Học là để thưởng thức, để trang trí, và để rèn luyện năng lực. Học để thưởng thức, chủ yếu là trong lúc riêng tư và nghỉ ngơi; để trang trí, là khi trò chuyện; để rèn luyện năng lực, khi phán đoán và sắp đặt công việc. Những người tài giỏi có thể xử lý, và có lẽ phán đoán những vấn đề đặc biệt, phù hợp với mỗi tình huống; với người bình thường, việc lên kế hoạch và điều hành công việc, thì tốt nhất, phải do những người có học hành đảm nhiệm. Dành quá nhiều thời gian để học là lười nhác; dành quá nhiều thời gian cho trang trí, là màu mè; phán đoán hoàn toàn dựa trên các quy tắc hàn lâm, là trò đùa giỡn của học giả. Việc học làm hoàn chỉnh bản chất, và được làm hoàn chỉnh hơn bởi kinh nghiệm: vì các năng lực tự nhiên cũng giống như cây cối trong thiên nhiên, cần được trồng tỉa, bằng học; và học đến phiên chúng lại tạo ra những hướng đi mới rộng lớn quá mức, may mắn là chúng bị giới hạn trong biên giới của kinh nghiệm. Người khôn lanh thì khinh thường học, người đơn giản thì sùng bái học, và người khôn ngoan thì sử dụng học; bởi vì việc học không dạy cách sử dụng chúng như thế nào; mà đó là trí tuệ, khi không còn học, và vượt qua việc học, đã đạt được bằng quan sát. Đọc không phải để phủ nhận và bác bỏ; cũng không phải để tin tưởng và mù quáng; cũng không phải để đàm thoại và diễn ngôn; mà để đong đo và cân nhắc. Một số sách chỉ để nếm thử, một số khác để nuốt chửng, và một số ít để nhai nhỏ và tiêu hoá; nghĩa là, một số sách chỉ cần đọc một vài phần nào đó; những cuốn khác cần đọc, nhưng không kỹ lưỡng lắm; và một số ít thì phải đọc toàn bộ, với hết lòng chuyên cần và chăm chú. Một số sách có thể được đọc bởi các người giúp việc, và những tóm tắt từ sách soạn ra bởi người nào khác; nhưng đó chỉ dành cho những thứ ít quan trọng, và cho loại sách tầm thường, nếu không thì sách được chưng cất như thế cũng giống như các loại nước được chưng cất ngoài kia, chỉ là những thứ vô vị. Đọc tạo ra một con người đầy đủ; bàn luận tạo ra một người sẵn sàng; và viết tạo ra một con người chính hiệu. Và vì thế, nếu một người viết ít, y phải có trí nhớ giỏi; nếu y ít bàn bạc, y cần sự khôn ngoan lanh lẹ; và nếu y đọc ít, thì y cần phải có rất nhiều khôn ranh, để đoán được cái gì y chưa biết. Lịch sử giúp ta thông thái; thi ca giúp ta tế nhị; toán học giúp ta tinh nhạy; vật lý giúp ta sâu sắc; đạo đức giúp ta nghiêm trang; luận lý và hùng biện giúp ta tranh biện. Abeunt studia in mores (Latin: học trở thành tính cách). Không, không có trở ngại nào của trí óc, mà không thể chữa trị bằng việc học thích ứng; y hệt như những bệnh tật của thể xác có thể chữa lành bằng những hoạt động thích hợp. Bowling giúp cho tinh hoàn và thận; bắn cung cho phổi và ngực; bách bộ cho dạ dày; cưỡi ngựa cho đầu; và tương tự thế. Vì thế nếu tâm trí một ai đó cứ lan man, hãy để y học toán; vì khi phải làm toán, nếu tâm trí cứ thường xuyên chạy tán loạn, thì y phải trở lại từ đầu. Nếu tâm trí y không biết phân biệt hoặc tìm ra những khác biệt, hãy để y học các học giả về Trung cổ; vì họ có thể chẻ sợi tóc làm tư. Nếu y không biết tranh biện, và không biết dùng điều này để chứng minh và làm sáng tỏ một điều khác, hãy để y học 197 vụ kiện tụng của các luật sư. Vì thế mỗi khiếm khuyết của trí óc đều có một công thức chữa trị đặc biệt.

Reading – Vladimir Nabokov

Vladimir Nabokov
Reading

Vladimir Nabokov

Incidentally, I use the word reader very loosely. Curiously enough, one cannot read a book: one can only reread it. A good reader, a major reader, an active and creative reader is a rereader. And I shall tell you why. When we read a book for the first time the very process of laboriously moving our eyes from left to right, line after line, page after page, this complicated physical work upon the book, the very process of learning in terms of space and time what the book is about, this stands between us and artistic appreciation. When we look at a painting we do not have to move our eyes in a special way even if, as in a book, the picture contains elements of depth and development. The element of time does not really enter in a first contact with a painting. In reading a book, we must have time to acquaint ourselves with it. We have no physical organ (as we have the eye in regard to a painting) that takes in the whole picture and then can enjoy its details. But at a second, or third, or fourth reading we do, in a sense, behave towards a book as we do towards a painting. However, let us not confuse the physical eye, that monstrous masterpiece of evolution, with the mind, an even more monstrous achievement. A book, no matter what it is—a work of fiction or a work of science (the boundary line between the two is not as clear as is generally believed)—a book of fiction appeals first of all to the mind. The mind, the brain, the top of the tingling spine, is, or should be, the only instrument used upon a book.

Source: https://www.brainpickings.org/2013/01/21/nabokov-on-what-makes-a-good-reader/

Đọc
Vladimir Nabokov
Võ Tấn Phát dịch

Nhân tiện, tôi dùng chữ độc giả cách rất lỏng lẻo. Thật ra, ta không thể đọc một cuốn sách: mà phải đọc lại cuốn sách đó. Một độc giả giỏi giang, một độc giả quan trọng, một độc giả tích cực và sáng tạo là một kẻ đọc lại. Và tôi sẽ cho biết tại sao. Khi ta đọc một cuốn sách lần đầu tiên, chính cái quá trình cần cù đưa mắt từ trái sang phải, hết hàng này tới hàng khác, hết trang này tới trang khác, công việc thể xác phức tạp này với cuốn sách, chính cái quá trình tìm hiểu trên không gian và thời gian xem cuốn sách đó như thế nào, chính nó ngáng đường giữa ta và việc thưởng thức cuốn sách. Khi nhìn một bức tranh mắt ta không phải đi chuyển theo một hướng nhất định nào đó dù cho nếu, giống như một cuốn sách, bức tranh chứa những yếu tố về chiều sâu và diễn tiến nội dung. Yếu tố thời gian không thực sự xuất hiện khi ta nhìn thấy bức tranh lần đầu tiên. Khi đọc sách ta cần thời gian để làm quen với nó. Ta không có một bộ phận cơ thể nào (như đôi mắt ta có khi xem tranh) để thấu hết cuốn sách vào và thưởng thức tất cả mọi chi tiết. Nhưng lần đọc thứ hai, thứ ba, hay thứ tư thì ta, ở một mức độ nào đó, cũng tiếp cận cuốn sách giống như xem tranh vậy. Tuy nhiên, chúng ta không nên nhầm lẫn giữa con mắt trần, một tuyệt phẩm thần kỳ của tiến hoá, với bộ óc, một thành tựu còn thần kỳ hơn nữa. Một cuốn sách, không cần biết loại nào — một công trình hư cấu hay khoa học (biên giới giữa hai thể loại thì không rõ ràng như ta thường nghĩ) — thì một cuốn sách hư cấu sẽ khêu gợi bộ óc nhất. Trí tuệ, bộ óc, phần trên cùng của cái xương sống nhồn nhột kia, chính là, hay nên là, cái dụng cụ duy nhất dùng cho cuốn sách.

On Books and Reading – Arthur Schopenhauer

EF968FE5-85BB-4D09-AB71-CB26787A7299
Photo credit: Wikipedia


Luận về Sách và Đọc
Arthur Schopenhauer

Võ Tấn Phát dịch
từ bản dịch Anh ngữ của Thomas Bailey Saunder

Dốt nát làm mất phẩm giá chỉ khi đi cùng với giàu có. Người nghèo bị cái nghèo và nhu cầu cấp thiết trói buộc: công việc chiếm hết đầu óc của hắn, chiếm chỗ của kiến thức. Nhưng một kẻ giàu mà dốt nát thì sống chỉ biết hưởng lạc, và giống như muông thú; như thường thấy hàng ngày: và bọn họ có thể bị quở trách vì không biết dùng tiền của và thời gian rảnh rỗi một cách tốt nhất.

Khi ta đọc, một người khác suy nghĩ cho ta: ta chỉ đơn giản là lập lại đường đi trí tuệ của y. Khi tập viết, học trò chỉ dùng bút mực đồ lại những mẫu chữ thầy cô giáo viết sẵn bằng bút chì: cũng như khi đọc vậy; phần lớn nhất của công việc suy nghĩ đã được làm sẵn cho ta rồi. Đó là tại sao ta thấy thư giãn hơn khi cầm sách lên đọc sau một thời gian đắm chìm trong suy nghĩ. Và khi đọc, trí óc ta thực sự chỉ là sân chơi của những suy tư của một kẻ khác. Hậu quả là nếu một kẻ dành hết cả ngày để đọc sách, lúc rảnh lại thư giản không cần động não, y sẽ đánh mất khả năng suy nghĩ; cũng như một kẻ chỉ cưỡi ngựa, cuối cùng quên mất làm sao đi bộ. Đó là trường hợp của nhiều người có học: bọn họ đọc riết tới đần độn luôn. Bởi vì chỉ dành hết thời gian để đọc, và không làm gì hết trừ đọc sách, thậm chí còn làm đầu óc tê liệt nặng hơn là luôn luôn làm việc tay chân, vì kẻ làm việc tay chân cho phép mình đi theo suy nghĩ của bản thân. Một cái lò xo cứ thường xuyên bị ép sẽ mất tính đàn hồi; đầu óc cũng sẽ như thế nếu tư tưởng của người khác cứ thường xuyên nhồi nhét vào. Cũng giống như ta sẽ làm hư dạ dày và hại cơ thể nếu nhồi vào quá nhiều chất bổ béo, ta có thể đổ tràn và làm nghẹt đầu óc khi nhồi nhét nhiều quá. Đọc càng nhiều, càng ít dấu hiệu đọng lại của những gì đã đọc được: bộ óc trở thành tấm bảng cứ bị viết đi viết lại đè lên nhau. Không có thời gian để suy ngẫm, và không có cách nào khác để tiêu hoá những gì đọc được. Nếu ta cứ đọc hoài đọc hoài, mà không bắt đầu óc phải suy nghĩ, những gì ta đọc sẽ không mọc rễ, và thường biến mất. Thực sự tinh thần cũng giống như thể xác, cùng lắm chỉ một phần năm thức ăn là tiêu hoá. Phần còn lại bốc hơi và bài tiết ra ngoài.

Hậu quả là tư tưởng viết ra trên giấy không gì khác hơn những dấu chân trên cát: ta thấy con đường một người đã đi qua, nhưng để biết y đã nhìn thấy gì trên đường đi, ta cần đôi mắt của y.

Chất lượng một phong cách viết không có được nhờ đọc những nhà văn có phong cách đó; dù phong cách đó có là nhiều thuyết phục, giàu tưởng tượng, biệt tài so sánh, táo bạo, cay đắng, ngắn gọn, thanh nhã, dễ dàng trong diễn đạt hay hóm hỉnh, đối chọi bất ngờ, súc tích hay kỳ quặc, v.v. Nhưng nếu những phong cách này có mặt tiềm ẩn trong ta, thì ta có thể nhận ra và đem chúng vào ý thức; ta có thể học được mục đích chúng có thể được dùng ra sao; ta có thể được củng cố thiên hướng sử dụng chúng, hay có can đảm sử dụng chúng; ta có thể phán xét bằng các thí dụ để thấy ảnh hưởng của việc áp dụng chúng, và từ đó rút ra cách dùng chúng cho đúng; và dĩ nhiên chỉ khi đạt đến mức này ta mới thực sự làm chủ những phong cách này. Cách duy nhất mà việc đọc có thể tạo ra phong cách là dạy cho ta cách dùng để ta có thể sử dụng năng khiếu tự nhiên của mình. Ta phải có những năng khiếu đó trước khi ta học cách sử dụng chúng. Không có những năng khiếu đó, việc đọc không dạy cho chúng ta thứ gì khác ngoài những văn phong chết cứng và làm ta trở thành những kẻ bắt chước hời hợt.

Các tầng của trái đất lưu giữ lại những sinh vật đã từng sống trong những thời đại xa xưa; và những hàng sách trên kệ của một thư viện cũng tàng trữ như thế những sai lầm của quá khứ và cách mà chúng bị bóc trần ra. Giống như những sinh vật xưa, những sai lầm đó cũng từng sống động trong thời của chúng, và gây nhiều náo động; nhưng giờ đây chúng cứng ngắt và hoá thạch, và chỉ còn là thứ gây tò mò cho nhà khảo cổ văn chương.

Herodotus kể lại rằng Xerxes khóc trước đội quân của mình trải dài vô hạn quá tầm nhìn, khi nghĩ tới chuyện tất cả họ, sau một trăm năm nữa sẽ không ai còn sống. Và khi nhìn một danh sách những cuốn sách mới, ta có thể khóc khi nghĩ tới chuyện chỉ mười năm nữa, không có một cuốn nào còn được ai nhớ tới.

Trong văn chương cũng như trong đời sống: đi đâu ta cũng gặp một đám người không thể thay đổi được, tràn ngập khắp nơi, chiếm chỗ và làm dơ bẩn mọi thứ, như ruồi nhặng mùa hè. Vì thế một số lượng lớn, mà không ai đếm hết được, những cuốn sách tồi tệ, những thứ cỏ dại ghê tởm của văn chương, đã chiếm hết dưỡng chất của hoa màu và làm nó nghẹt thở. Thời giờ, tiền bạc, và sự quan tâm của công chúng, lẽ ra phải được dành cho sách hay và những mục đích cao quý của chúng, thì bị sách tồi giành hết: chúng được viết ra chỉ nhằm kiếm tiền hay tìm kiếm địa vị. Như thế chúng không chỉ vô dụng; chúng gây ra nguy hại lớn. Chín mươi phần trăm toàn bộ văn chương hiện thời không có mục đích nào khác hơn là moi tiền từ công chúng; và để đạt mục đích đó tác giả, nhà xuất bản, và nhà phê bình cùng cấu kết nhau.

Tôi muốn kể ra đây một trò xảo trá và độc ác, dù mang nhiều lợi nhuận và thành công, được thực hành bởi các nhà văn, những kẻ viết dạo, và một số lượng lớn tác giả. Hoàn toàn không đếm xỉa gì đến gu thẩm mỹ và văn hoá thực thụ đương thời, bọn họ đã thành công trong việc dẫn dắt tất cả mốt đọc sách, để tất cả đều được hướng dẫn để đọc đúng lúc, cùng một thứ, nghĩa là, những cuốn sách mới nhất; nhằm mục đích có chuyện để thảo luận trong nhóm họ giao lưu. Đó là một cái đích được đáp ứng bởi những tiểu thuyết tồi, được viết ra bởi những nhà văn đã từng được mến mộ, như Spindler, Bulwer Lytton, Eugene Sue. Có gì đáng buồn hơn một đám đông đọc sách như vậy, luôn hướng tới đọc ngấu nghiến sách của những tác giả cực kỳ tầm thường viết chỉ vì tiền, và nhiều vô kể? Và vì thế bọn họ hài lòng với chuyện chỉ cần biết tên sách của một số ít thiên tài của mọi thời và mọi quốc gia. Báo chí văn chương cũng là một công cụ xảo quyệt duy nhất cướp đi của công chúng thời gian đọc sách, mà nếu muốn đạt được tầm cao văn hoá, thì phải dành cho những sản phẩm thực thụ của văn chương, thay vì bị xâm chiếm bởi những kẻ tầm thường cẩu thả hàng ngày.

Vì thế, trong việc đọc, điều quan trọng là phải biết kiềm chế. Kỹ năng đó bao gồm chuyện không cứ phải đọc một cuốn sách chỉ vì vào thời điểm đó nó được nhiều người đọc; như những cuốn sách chính trị hay tôn giáo, tiểu thuyết, thơ ca, hay những thứ tương tự, gây nhiều tiếng vang, và có thể được tái bản nhiều lần. Mà hãy nghĩ kỹ một chút, một người viết cho những tên ngốc thì luôn muốn có số người đọc đông đảo; hãy cẩn thận giới hạn thời gian dành cho việc đọc, và để hết vào việc đọc những đầu óc vĩ đại của mọi thời và mọi quốc gia, những người vượt trội hơn số nhân loại còn lại, những người mà danh tiếng đã cho thấy như thế. Chỉ những người đó mới có thể giáo dục và trao truyền kiến thức. Đọc một cuốn sách tồi là quá nhiều, còn đọc bao nhiêu sách hay cũng không đủ. Sách tồi là thuốc độc tâm hồn; chúng tàn phá đầu óc. Bởi vì nhân loại chỉ đọc những thứ mới mẻ hơn là những thứ tuyệt vời nhất của mọi thời đại, người viết chỉ lẩn quẩn trong vòng vây của những tư tưởng đang thịnh hành đương thời; và như thế thời đại đó cứ lún càng ngày càng sâu vào vũng lầy của chính nó.

Mọi thời đại đều có hai nền văn chương diễn ra, song hành với nhau, nhưng ít biết đến nhau; một cái là thực, cái kia chỉ là bề nổi. Cái thứ nhất phát triển thành nền văn chương trường cửu; nó được theo đuổi bởi những ai sống vì khoa học hay vì thì ca; con đường của nó đi thì tỉnh táo và yên lặng, nhưng cực kỳ chậm rãi; và nó sản sinh ra ở Âu Châu chỉ hiếm hoi cỡ một chục tác phẩm mỗi thế kỷ; nhưng đó là những tác phẩm vĩnh cửu. Nền văn chương kia thì được đeo đuổi bởi những kẻ sống bám vào khoa học và thi ca; nó phi nước đại huyên náo và thét la phe phái; và mỗi năm nó tung ra hàng ngàn tác phẩm. Nhưng sau vài năm ta phải hỏi: bây giờ chúng ra sao? còn đâu những danh tiếng đến rất nhanh và ồn ào kia? Loại văn chương này là phù du, còn loại kia là vĩnh cửu.

Trong lịch sử của chính trị, nửa thế kỷ luôn là một khoảng thời gian dài; chất liệu tạo ra chúng luôn thay đổi; luôn có chuyện gì đó đang diễn ra. Nhưng trong lịch sử văn chương thường bế tắt hẳn trong cùng thời kỳ đó; không có gì xảy ra cả, vì những cố gắng vụng về không đáng nói tới. Ta đứng yên cùng một chỗ như 50 năm trước.

Để làm rõ thêm ý kiến của tôi, hãy so sánh sự tiến bộ của tri thức nhân loại với quỹ đạo của một hành tinh. Những con đường sai lầm mà nhân loại thường đi sau mỗi bước tiến bộ quan trọng giống như những đường tròn ngoại luân trong hệ thống địa tâm của Ptolemy, và sau khi đã hoàn tất một vòng ngoại luân đó, thế giới lại quay về chỗ cũ. Nhưng những bộ óc vĩ đại, những người đã thực sự dẫn dắt nhân loại tiến lên phía trước, không hề đi theo nhân loại trên những vòng tròn ngoại luân đó. Nó giải thích tại sao danh tiếng sau khi mất thường được đánh đổi bằng ca tụng lúc còn sống, và ngược lại. Một ví dụ về đường tròn ngoại luân như thế là triết học bắt đầu bằng Fichte và Schelling, và đạt đến đỉnh điểm bởi những trò hề của Hegel. Đường tròn ngoại luân này đi trệch hướng khỏi điểm giới hạn của triết học được Kant thừa kế và phát triển; và từ điểm đó tôi đã tiếp tục phát triển thêm nữa. Trong cùng thời gian đó những triết gia giả mạo tôi đã nêu đích danh và vài kẻ khác đi loanh quanh trên đường tròn ngoại luân đó, đã đi hết đường; như thế những kẻ đồng hành cùng bọn họ biết rằng bọn họ chỉ quay lại chính nơi mà họ khởi hành.

Tình huống này giải thích tại sao mà, cứ mỗi 30 năm, khoa học, văn chương, và nghệ thuật, theo tinh thần của thời đại, bị tuyên bố phá sản. Những sai lầm mỗi lúc một ít cộng lại trở thành to lớn đến mức trọng lượng kỳ quặc của nó đủ làm cho cả hệ thống đổ sụp; trong cùng lúc đó sự đối lập của những sai lầm trên lại lớn mạnh lên. Như thế một thất vọng xảy ra, thường theo đó là sai lầm theo hướng ngược lại. Mô tả những phong trào theo chu kỳ này là mục đích thực sự thiết thực cho lịch sử văn học; tuy vậy rất ít được quan tâm. Bên cạnh đó, khoảng thời gian khá ngắn ngủi của những giai đoạn đó thì khó để thu thập đủ dữ liệu cho một giai đoạn đã qua từ xa xưa; vì thế cách dễ dàng nhất là quan sát vấn đề này ở thời đại của chính mình. Một ví dụ từ khoa học tự nhiên là nghiên cứu địa chất của hành tinh Neptune của Werter.

Nhưng hãy quay lại ví dụ đề cập ở trên, gần gũi nhất với chúng ta. Trong nền triết học Đức, thời đại rực rỡ của Kant bị ngay lập tức theo sau đó là một thời đại cố áp đặt thay vì thuyết phục. Thay vì thấu đáo và sáng tỏ, nó lại cố gắng làm loá mắt, cường điệu, và đến độ không thể hiểu nổi: thay vì đi tìm chân lý, nó kích thích. Triết học không thể tiến bộ theo cách này; và cuối cùng thì cả trường phái này và phương pháp của nó cũng phá sản. Vì sự vô liêm sỉ của Hegel và đồ đệ đã diễn ra, — hoặc vì bọn họ nói năng vô nghĩa phức tạp, hoặc vì vênh váo không chút đắn đo, hoặc bởi vì mục đích của toàn bộ khối sáng tác này hoàn toàn hiển nhiên, — nên cuối cùng không còn gì ngăn trở trò bịp của toàn bộ công trình của họ phơi ra trước thiên hạ: và khi mà một số chuyện lộ ra, sự ủng hộ của giới thượng lưu bị rút lại, thì hệ thống đó bị công khai chế nhạo. Cái tệ hại nhất trong các thứ triết học nghèo nàn từng tồn tại trên đời đã có kết cục đáng buồn, và kéo theo xuống hố thẳm nhục nhã, cả những hệ thống của Fichte và Schelling trước đó. Và như thế, xét cả nền triết học Đức cho tới nay, toàn bộ sự bất tài của triết học trong nửa đầu thế kỷ kể từ sau Kant là hiển nhiên: và tuy vậy người Đức vẫn khoe khoang tài năng triết học của họ khi so sánh với ngoại nhân, đặc biệt là một nhà văn người Anh đã mỉa mai một cách độc ác khi gọi họ là “đất nước của những nhà tư tưởng”.

Để lấy ví dụ về hệ thống tổng quát của những đường tròn ngoại luân từ lịch sử nghệ thuật, hãy xét trường phái điêu khắc Bernini đã phát triển rực rỡ trong thế kỷ trước, đặc biệt là sự phát triển chiếm ưu thế của nó ở Pháp. Lý tưởng của trường phái này không phải là vẻ đẹp cổ điển, mà là vẻ tự nhiên đời thường: thay vì sự đơn giản và thanh nhã của nghệ thuật cổ điển, nó đại diện cho những dáng vẻ của một điệu nhảy minuet Pháp.

Xu hướng này đã phá sản khi, dưới sự hướng dẫn của Winkelman, người ta quay về trường phái cổ. Lịch sử hội họa đưa ra một minh họa trong phần tư đầu của thế kỷ này, khi nghệ thuật chỉ được coi là phương tiện và công cụ của tâm tình tôn giáo trung cổ, và kết quả là những chủ đề của nó chỉ được lấy ra từ những đề tài tôn giáo: tuy nhiên, những chủ đề này được xử lý bởi những họa sĩ, những người không có chút mộ đạo thực thụ nào, và trong sự lừa mị đó họ đi theo những tên tuổi như Francesco Francia, Pietro Perugino, Angelico da Fiesole, và đánh giá những người này cao hơn những bậc thầy sau đó. Chính vì sự khủng khiếp này, và vì trong thi ca chuyện tương tự cũng xảy ra, mà Goethe đã viết chuyện ngụ ngôn Pfaffenspiel. Trường phái này cũng nổi tiếng kỳ quái bất thường, bị phá sản, rồi tiếp theo đó là sự quay về với thiên nhiên, với tuyên bố lấy đề tài từ mọi hình ảnh của đời sống, dù thỉnh thoảng có trượt sang những cái thô tục.

Sự tiến bộ của tư tưởng nhân loại trong văn chương cũng như thế. Lịch sử văn chương phần lớn giống như danh mục của một bảo tàng các dị dạng; linh hồn của nó nhiều nhất là chỉ còn lại bộ da. Những tạo vật được sinh ra với hình dạng xinh đẹp không tìm thấy ở đó. Chúng vẫn sống động, và có thể gặp ở khắp nơi trên thế giới, bất tử, và càng ngày càng xanh tươi. Chỉ riêng bản thân chúng thôi mới tạo thành cái mà tôi gọi là văn chương thực sự; lịch sử của nó, dù ít ỏi về số lượng tác giả, từ nhỏ chúng ta học từ miệng của những người có học, trước khi các cuốn sách truyền đạt cho chúng ta.

Để giải độc cho một khuynh hướng đang thịnh hành là chỉ chuyên đọc lịch sử văn chương, nhằm mục đích có thể huyên thuyên về tất cả mọi thứ, mà không cần phải có chút kiến thức thực thụ nào, hãy để tôi đề cập tới tác phẩm của Lichtenberg (tập II., trang 302), rất đáng để chúng ta suy ngẫm.

Tôi tin rằng sự hiểu biết nhiều hơn mức cần thiết về lịch sử khoa học và học thuật, vốn đang phổ biến trong thời đại chúng ta, thì vô cùng tai hại cho sự tiến bộ của tri thức. Có nhiều vui thú trong chuyện theo dõi dòng lịch sử này; nhưng thực ra, nó làm cho trí não không những đã không còn trống rỗng, mà còn không có năng lực của chính nó, bởi vì nó quá đầy tràn. Bất kỳ người nào cảm thấy khao khát, không phải là lấp đầy trí óc, mà củng cố nó, phát triển năng lực và tiềm năng trí tuệ của bản thân, và nói chung, làm tăng cường sức mạnh trí tuệ của mình, sẽ thấy rằng không có gì làm nản chí bằng cuộc đối thoại với một kẻ được coi là nhà văn học, về một vấn đề nào đó mà y không hề suy ngẫm chút nào về nó, dù y biết hàng ngàn giai thoại nho nhỏ liên quan tới lịch sử và nghiên cứu về vấn đề đó. Nó y hệt như ta phải đọc một cuốn sách dạy nấu ăn khi ta đang đói bụng vậy. Tôi tin rằng cái gọi là lịch sử văn chương sẽ không thịnh hành trong số những người biết suy xét, những người hiểu được giá trị của chính họ và giá trị của kiến thức thực thụ. Những người này thà sử dụng lý trí của chính mình hơn là phí sức để tìm hiểu những kẻ khác đã dùng lý trí của họ như thế nào. Điều tồi tệ nhất là, như ta sẽ thấy, càng nhiều kiến thức theo hướng nghiên cứu văn chương, càng ít năng lượng để thúc đẩy kiến thức; thứ duy nhất tăng lên là lòng tự tôn đã nắm giữ mớ kiến thức đó. Những kẻ như thế tin rằng họ có kiến thức ở mức độ cao hơn những người có kiến thức thực thụ. Rõ ràng đó là một nhận định có cơ sở, rằng kiến thức không làm người nắm giữ nó thấy tự hào. Những kẻ để chính mình tự mãn thái quá, những kẻ không thể tự mình phát triển kiến thức, thì bận rộn với công việc làm sáng tỏ những chỗ tối trong lịch sử, hay ghi chép lại những gì người khác đã làm. Bọn họ tự mãn, bởi vì họ coi thứ công việc này, dù phần lớn chỉ là máy móc, là thực hành kiến thức. Tôi có thể minh họa bằng ví dụ ý này của tôi rõ hơn, nhưng sẽ là một công việc kinh tởm.

Tuy vậy, tôi mong ai đó sẽ thử viết một bi sử của văn chương, theo ta biết về cách mà các văn sĩ và nghệ sĩ, những người đem lại niềm tự hào nhất cho những đất nước họ sinh ra, đã được đất nước họ đối xử như thế nào trong lúc họ còn sống. Thứ lịch sử đó sẽ cho thấy cuộc chiến không ngừng nghỉ, cuộc chiến mà những thứ tốt đẹp và chân thật của mọi thời đại và mọi quốc gia phải chống lại những thứ xấu xa và tai ác. Nó sẽ kể lại sự hy sinh vì đạo nghĩa của hầu hết những ai thực sự khai sáng cho nhân loại, của hầu hết các bậc thầy vĩ đại của tất cả các nghành nghệ thuật: nó sẽ cho chúng ta thấy làm sao mà, trừ một ít ngoại lệ, họ bị tra tấn đến chết, không được công nhận, không được thông cảm, không có đệ tử; làm sao mà họ sống trong nghèo khổ khốn cùng, trong khi tiếng tăm, danh vọng, và tiền bạc lại dành cho của những kẻ không xứng đáng; làm sao mà số phận của họ là số phận của Esau, người đã săn bắn kiếm được thịt hưu cho cha mình, lại bị cướp mất phúc trạch bởi Jacob, kẻ ngụy trang trong bộ áo của người anh em; làm sao mà, sau mọi tồi tệ như thế, họ vẫn tiếp tục vì tình yêu công việc họ làm, cho đến tận cùng khi cuộc chiến đắng cay của bậc thầy của nhân loại chấm dứt, khi vòng nguyệt quế bất tử được trao cho họ, và thời khắc đã điểm khi ta có thể nói:

Der schwere Panzer wird zum Fluegelkleide
Kurz ist der Schmerz, unendlich ist die Freude.

Áo giáp nặng đã trở thành đôi cánh thiên thần
ngắn ngủi niềm đau, vô tận niềm vui.

Nguồn:

https://en.m.wikisource.org/wiki/On_Books_and_Reading

https://ebooks.adelaide.edu.au/s/schopenhauer/arthur/religion/chapter3.html

C74CEDB9-C82F-44A0-AFB5-1906AE9CA63B
Photo credit: Wikipedia

The problem with only liking things we find relatable – Charmaine Craig

9EC0640E-5E3A-4345-B49F-46DC4B736BB1


The problem with only liking things we find relatable

Charmaine Craig

In addition to being a novelist, I teach fiction at a university. And something that drives me crazy is students rejecting a piece of writing because it’s not relatable,” or because its characters aren’t likable. Recently, I was teaching “Anna Karenina,” and one of my brightest graduate students wrote off the novel because she found the characters’ thinking to be too different from her own.

Well, maybe literature isn’t here to hold a mirror up to our own way of thinking. The word relatable is relatively new, and it strikes me as more than a coincidence that its rise correlates with that of Facebook and its culture of likes. When we say we like something, we’re really describing ourselves more than the thing we like. That character, that photo, that idea reflects my preferences, my outlooks, my tastes, me.

There’s nothing wrong with liking or disliking, but when we only like things we find relatable, or we are only interested in people we find likeable, we’re implicitly holding up narcissism and conformity, and we’re critiquing difference.

I grew up in this country, and there’s no way that my peers would have described me as relatable when I was young. I was shy to the point of extreme awkwardness, this height 5’8″ at age 11, terrible at team sports, and impossible to categorize racially or culturally. My father was a descendent of people who arrived on the Mayflower, and my mother, a mixed-race refugee from the country now called Myanmar, also known as Burma.

Partly because I’m culturally and ethnically kind of anomalous, I’ve rarely related to people in my life. But that doesn’t mean I haven’t learned from and respected and felt for them. And that’s really what I want to say: that there’s a difference between relating or liking, in our current sense, and being curious and empathic.

Would I rather people like my novel or be affected by it finally? To be moved or affected by a piece of literature isn’t necessarily to see ourselves reflected in it or to like everything about it, we might disapprove of or want to fight with its characters; we might never have been exposed to the kinds of social settings or modes of thinking it describes.

And yet, if we open ourselves to such a piece of literature — to a novel like “Anna Karenina” that attentively describes other human beings, with all their passions, foibles and insights — we might find it opening itself to us, in turn. We might even feel something like love emanating from its pages, a love that comes with an author’s feeling for humanity, for readers, and for characters that, in life, might at first be very difficult to relate to or like.

Source: https://www.pbs.org/newshour/show/problem-liking-things-find-relatable

Khi chỉ thích những gì ta cảm được
Charmaine Craig
Võ Tấn Phát dịch

Bên cạnh việc viết tiểu thuyết, tôi cũng dạy văn chương ở đại học. Và cái làm tôi điên lên là khi sinh viên từ chối đọc một cuốn sách chỉ vì “nó không cảm thông được (relatable)”, hay vì những nhân vật không dễ mến. Mới đây, tôi dạy về cuốn “Anna Karenina”, và một trong những học sinh hậu đại học giỏi nhất của tôi đã coi thường cuốn tiểu thuyết vì cô thấy lối suy nghĩ của các nhân vật quá khác biệt với cô.

À, có lẽ văn chương không phải để ta cầm gương lên soi lối suy nghĩ của chính mình. Cái từ cảm thông (relatable) thì khá mới, và tôi thấy không phải là tình cờ khi nó trỗi dậy cùng với Facebook và văn hoá like. Khi ta thích cái gì đó, ta thực sự bộc lộ bản thân hơn là cái thứ ta thích. Nhân vật đó, bức ảnh đó, ý tưởng đó phản ánh những yêu thích của tôi, thế giới quan của tôi, thị hiếu của tôi, tôi.

Không có gì sai trong chuyện thích hay không thích, nhưng khi chúng ta chỉ thích những thứ chúng ta thấy cảm thông được, hay khi chúng ta chỉ quan tâm tới những người chúng ta thấy dễ mến, chúng ta ngấm ngầm đề cao tính tự yêu và theo đuôi, và chỉ trích sự khác biệt.

Tôi lớn lên ở đất nước này, và bạn bè tôi không thể nào mô tả tôi là một đứa cảm thông được khi tôi còn nhỏ. Tôi rụt rè tới mức cực kỳ vụng về, cao tới 1.7 mét ở tuổi 11, chơi thể thao dở tệ, và không thể xếp vào chủng tộc hay nền văn hoá nào. Cha tôi là hậu duệ của những người Mỹ lập quốc đã đến từ chiếc tàu Mayflower, còn mẹ tôi là một người tị nạn đa chủng đến từ Miến Điện.

Một phần vì tôi thuộc loại dị thường về văn hoá và chủng tộc, tôi ít thấy liên hệ với ai đó trong đời tôi. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không học hỏi được hay kính trọng hay cảm thông cho họ. Và đó là điều tôi muốn nói ở đây: có sự khác nhau giữa liên hệ hay thích, với hiếu kỳ và thấu hiểu.

Như thế tôi muốn độc giả thích tiểu thuyết của tôi hay xúc động sau đó? Cảm động vì một tác phẩm văn chương không nhất thiết phải thấy mình trong đó hay thích mọi thứ trong đó. Chúng ta có thể không đồng ý hay muốn chống lại với những nhân vật trong đó; chúng ta có thể không bao giờ được trải nghiệm với môi trường xã hội hay lối suy nghĩ nó mô tả.

Vì vậy, nếu chúng ta mở hồn mình cho một tác phẩm văn chương như thế — với một cuốn tiểu thuyết như “Anna Karenina”, một cuốn sách vẽ ra những người khác một cách thấu đáo, với những đam mê, nhược điểm và tâm trạng của họ — thì ta có thể thấy được cuốn sách đến lượt nó lại mở lòng ra cho ta. Ta thậm chí có thể cảm được tình yêu tỏa ra từ những trang sách, một tình yêu đến từ sự cảm thông của tác giả cho nhân loại, cho độc giả, cho những nhân vật, mà trong đời thực, khi mới gặp qua thì khó mà cảm hay thích được.

Books

IMG_3920


Books

Phat Vo

May 23, 2016

This article was published in the E-zine http://damau.org/archives/42647

October last year (2015) my sister and her family came over from Vietnam to visit my father in Little Saigon, California. We visited many places and took many pictures, but one picture has been my favorite of the whole visit. It had poor lighting, strange composition, crooked angle, all the signs of an amateur photographer with an iPhone 4S. There after a long day walking around the Museums and Gardens of the Huntington Library, exhausted, we headed out and on the way stopped by the real Library which housed all the precious manuscripts and books. Somehow my father and my niece happened to read together the information at the display of the first printed book of Western Civilization, the Gutenberg Bible. Asking them to turn around for a pose, I took the picture very quick without thinking. Right there and then I remembered it very vividly.

I remembered that a little more than 40 years ago, myself the 5 and 1/2 year old kid was an enthusiastic book destroyer. In a storage room with all the windows closed or opened a little, I enjoyed throwing torn books and pages into a fire in the middle of the room. The kid in me was happy to play with fire without knowing what was going on.

Only a long time later when I knew enough, my parents told me of the event. After the Communist North won the war in April 1975, they ordered people to turn in books published in the South which they deemed decadent, depraved and anti-revolutionary, to be destroyed. My father – who as a kid in his small village witnessed the Communist Land Reform in the early 1950s, in which the poor farmers were directed by the soldiers to torture old rich farmers – knew not to trust the communists. Afraid that the communists would record our books for later punishment, he decided to burn most of the books in our small library. To hide from the potentially nosy neighbors, we closed or opened slightly most windows during the reluctant book burning ritual. Hundreds of books were burned in a few days.

Growing up and studying totally under the communist rule, I soon forgot all about that incident. That tragedy of ours was insignificant compared to the loss of lives and properties of countless others. I was pretty happy despite all the hardship our family endured during the communist mismanagement of the country. As I got older, I vaguely realized something was wrong during those years. A teacher of mine and a close friend of our parents whom I loved and respected so much escaped by boat without saying goodbye to me. Some of our parents’ friends came over and talked about their shame of teaching kids the lies in textbooks. Some others from the South Vietnam Army after being “re-educated” came and wished they had fought harder. Relatives and neighbors died because of a shortage of medicines or medical staff’s carelessness. Wars after wars. Endless news of enemies trying to destroy our countries. Those terrible years of not having enough to eat, of mistrust between neighbors and friends, of listening to lies through propaganda in all forms of media, of living lives of fear under constant watch of local policemen. There I read most of the remaining books in our library. Valuable books were hard to find, but our parents managed to buy good books, even some banned books, and encouraged us to read and to learn the truth through them. The book burning images came back a little, and I sometimes wondered if I was reading books which were burned in that closed room years ago.

Then I came to America. I saw in a small American city a library bigger than the Vietnam National Library in Saigon, and was astonished to be able to get the library card within a few minutes and was able to borrow tons of books right there.

That experience of book burning and book scarcity in Vietnam during my young years probably explains my crazy love of books in physical form. I could go for hours in libraries or old bookstores admiring books hundreds of years old. In San Francisco museums or in Boston old bookstores, I was attracted to old books or old manuscripts on display and longed to touch them in order to feel the wisdom of old age on those pages. More than once I could not resist the urge to buy an old copy of a favorite book of mine, so I could read, reread, feel the pages, and enjoy the illustrations, like a small child. A few copies of Candide. A few copies of The Book of Tea.

In school and at work occasionally I had to argue with people who still considered Ho Chi Minh a just and enlightened leader of Vietnam. Many times my English was not good enough to defend my points, I found myself repeating the indictment just like a kid, “but he was a mass murderer.” Maybe now I would add, “he was also a mass book destroyer?”

Back to the picture, there stood a grandpa who burned his beloved books 40 years ago, next to a granddaughter who first came to a country which treasured books, next to a first printed book copy of the West. The picture draws tears sometimes when I look at it.

I know I am forever an enemy of those thugs who burn books! No matter how small or hopeless my effort is.

Sách
Võ Tấn Phát

Đã đăng ở da màu http://damau.org/archives/42647

Tháng 10 năm ngoái (2015) em gái tôi và gia đình từ Việt Nam qua thăm ba tôi ở Little Saigon, California. Cả gia đình đã đi nhiều nơi và chụp nhiều hình. Nhưng có một tấm hình tôi thích nhất. Thiếu ánh sáng, thiếu bố cục, ảnh bị nghiêng, nó mang đầy dấu ấn của một tay thợ chụp hình nghiệp dư dùng iPhone 4S cũ kỹ. Sau một ngày dài đi bộ hết Bảo tàng này sang Khu vườn nọ của Huntington Library, và quá mệt mỏi, chúng tôi ra về, và trên đường đi ra cổng đã dừng lại ở Thư Viện chứa đầy những cuốn sách và bản thảo quý giá. Tình cờ ba tôi và cháu gái cùng đứng trước hộp triển lãm chứa cuốn sách in đầu tiên của văn minh Tây phương, cuốn Kinh Thánh Gutenberg. Khi cả hai quay ra ngoài làm mẫu, tôi đã chụp rất nhanh không suy nghĩ. Ngay lúc đó hình ảnh quá khứ hiện ra rõ mồn một.

Tôi nhớ lại hơn 40 năm trước, tôi cái thằng bé năm tuổi rưỡi là một kẻ đốt sách nhiệt thành. Trong căn phòng kín cửa, tôi đã khoái trá quăng những cuốn sách và những trang sách bị xé dở vào đống lửa giữa nhà. Thằng bé trong tôi sung sướng chơi trò đốt lửa, không hề biết chuyện gì xung quanh.

Rất lâu về sau khi tôi đã khôn lớn, ba má tôi mới kể về vụ đốt sách đó. Khi Cộng Sản Bắc Việt chiến thắng vào tháng 4 năm 1975, họ đã ra lệnh mọi người phải nộp để đem hủy những cuốn sách xuất bản ở miền Nam bị coi là đồi truỵ và phản cách mạng. Ba tôi – khi còn nhỏ đã chứng kiến cảnh Cải Cách Ruộng Đất trong làng, đã nhìn thấy những người nông dân vốn hiền lành bị ép phải hành hạ những ông phú nông già nua – không tin người Cộng Sản chút nào. Lo sợ Cộng Sản sẽ ghi lại tên sách để tính sổ sau này, ông đã quyết định đốt gần hết sách trong cái thư viện nhỏ của gia đình. Để phòng ngừa những người hàng xóm tọc mạch, ba má tôi đã đóng kín hoặc chỉ hé các cửa phòng lúc đốt sách. Hàng trăm cuốn sách đã bị đốt trong vài ngày.

Lớn lên và được học hành hoàn toàn dưới chế độ cộng sản, tôi nhanh chóng quên đi vụ đốt sách. Thảm kịch đó vô cùng bé nhỏ so với những tổn thất nhân mạng và tài sản của vô số người khác. Tôi khá vui vẻ mặc cho những khó khăn gia đình tôi phải chịu dưới sự quản lý đất nước yếu kém của cộng sản. Nhưng khi lớn hơn một chút, tôi lờ mờ nhận ra có gì đó không ổn. Một thầy giáo tôi rất quý trọng và cũng là bạn thân của gia đình đã vượt biên bằng thuyền một cách bí mật không nói với tôi gì cả. Một vài người bạn của gia đình đến và kể về nỗi xấu hổ phải dạy con nít những dối trá trong sách giáo khoa. Những người bạn trong quân đội Miền Nam đi cải tạo về đến thăm và ước gì họ đánh lì hơn chút nữa. Những người thân chết vì thiếu thuốc hay cẩu thả của ngành y. Rồi chiến tranh tiếp nối chiến tranh. Những tin tức không ngừng về những kẻ thù cứ muốn tàn phá đất nước tôi. Những năm không đủ ăn, nghi kỵ giữa hàng xóm và bạn bè với nhau, thường xuyên bị dội những tuyên truyền dối trá đủ mọi hình thức, sống trong lo sợ dưới sự dò xét thường trực của cảnh sát phường xóm. Hồi đó tôi đã đọc hầu hết những cuốn sách còn lại trong thư viện gia đình. Sách có giá trị khó tìm, nhưng ba má vẫn gắng mua sách, gồm cả sách cấm, và khuyến khích chúng tôi đọc và tìm hiểu sự thật qua sách. Những hình ảnh đốt sách trở về, và đôi khi tôi tự hỏi cuốn sách nào mình đang đọc là cuốn đã bị đốt trong phòng kín nhiều năm trước.

Rồi tôi được tới Mỹ. Tôi nhìn thấy cái thư viện của một thành phố nhỏ của Mỹ còn lớn hơn cả Thư Viện Quốc Gia ở Sài Gòn, và tôi kinh ngạc thấy mình có thể làm thẻ thư viện trong vài phút và mượn được hàng tấn sách ngay lúc đó.

Kinh qua vụ đốt sách và thời kỳ khan hiếm sách lúc trẻ có lẽ đã làm tôi mê sách điên cuồng. Tôi có khi đi dạo hàng giờ trong những thư viện hay tiệm sách cũ ngắm nhìn những cuốn sách hàng trăm năm. Trong những bảo tàng ở San Francisco hay tiệm sách cũ ở Boston tôi bị hút hồn vào những cuốn sách hay bản thảo cổ và thèm được chạm vào chúng để thấu được cái minh triết cổ xưa trên những trang sách đó. Nhiều lần tôi không thể cưỡng lại cám dỗ phải mua một bản in cũ của cuốn sách tôi yêu thích, để được đọc đi đọc lại, chạm vào những trang sách, và thưởng thức những bức tranh minh hoạ, như một đứa trẻ con. Vài bản in Candide. Vài bản Trà Thư.

Lúc còn đi học hay đi làm sau này đôi khi tôi phải tranh cãi với những người vẫn còn cho Hồ Chí Minh là một lãnh tụ anh minh chính nghĩa của Việt Nam. Nhiều khi tiếng Anh của tôi không đủ để tranh luận, tôi thấy mình cứ lập lại những lời kết tội như con nít: “nhưng mà ông ta là tên sát nhân hàng loạt mà”. Có lẽ giờ đây tôi nên thêm vào lời kết tội: “ông ta cũng là tên đốt sách hàng loạt nữa”.

Trong tấm hình, ông ngoại – người đã đốt những cuốn sách quý giá 40 năm trước – đứng cạnh đứa cháu lần đầu tiên đến một đất nước trân quý sách, bên cuốn sách in đầu tiên của phương Tây. Nhìn tấm hình đó đôi khi tôi thấy muốn rớt nước mắt.

Tôi biết mình sẽ mãi là kẻ thù của tụi đốt sách! Dù cho những nỗ lực của tôi có nhỏ bé vô vọng thế nào đi nữa.